THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI 1900-1960 (Uyên Thao)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

Quanh bản nháp phác thảo
THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI 1900-1960
HỒI TƯỞNG VÀ ƯỚC MƠ
( I )

Uyên Thao, 1970

UYÊN THAO
Cuối năm 1956, tôi bỗng nẩy ra ý định viết về tiến trình thi ca Việt Nam thế kỷ 20 mở đầu năm 1900. Dù chỉ vừa tham gia sinh hoạt giấy bút 5 năm và tuổi đời đang ở độ mong manh kiến thức, tôi đã lao vào công việc trước không ít trở ngại, trong đó khó nhất là việc thu gom tài liệu và thời giờ đọc, viết. Hầu hết tài liệu đều tập trung ở Sài Gòn là nơi tôi chỉ thấp thoáng ghé qua do địa bàn của tôi thuở đó gói gọn tại vùng biên giới Việt – Miên từ Hồng Ngự – Châu Đốc tới An Giang – Kiên Giang trong khi cuộc sống lật đật thất thường khiến thời giờ luôn hạn chế.

Nhưng cuối cùng tôi đã vượt qua mọi trở ngại nhờ thiện cảm thân thương giúp đỡ từ rất nhiều người.

Tại Sài Gòn, không chỉ các bạn đồng trang lứa mà ngay một số đàn anh lớn tuổi trong giới cầm bút đã giúp thu gom sách báo cần thiết rồi đóng gói trao cho tôi mỗi khi tôi có cơ hội về thành phố.

Riêng bạn bè quây quần tại vùng biên giới đều luôn giúp đem theo vài tập sách, báo để bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, tôi vẫn có thể đọc khi điều kiện cho phép.

Đặc biệt tại hai thị xã Long Xuyên, Rạch Giá, có hai người bạn đã dành cho tôi hai căn phòng trống để cất tài liệu và nghỉ ngơi khi có điều kiện về các nơi này. Tại hai căn phòng nhỏ ấy, tôi đã qua nhiều đêm thức trắng để viết, chỉ chợp mắt khoảnh khắc lúc sáng sớm khi mọi người trở dậy lo cho một ngày mới.

Sau 4 năm, tôi hoàn tất bức chân dung phác họa dòng thơ tiếp nối dòng Thơ Việt Cổ Điển mà tôi định danh là Thơ Việt Hiện Đại qua 4 thời kỳ dựa theo các biến cố lịch sử :

– Giai đoạn Sơ Khai 1900-1930

– Giai đoạn Nền Móng 1930-1945

– Giai đoạn Phân Hóa 1945-1956

– Giai đoạn Chuyển Tiếp 1956-1960

Qua năm 1960, tôi chỉ còn một việc nhẹ là hoàn tất phần thi tuyển gồm 1000 bài thơ của gần 300 tác giả tiêu biểu trong 4 giai đoạn.

Từ giữa năm 1959, cuộc sống thay đổi dần giúp tôi có mặt thường xuyên hơn ở Sài Gòn.

Do đó, tôi đã có cơ hội gần gũi bốn vị đàn anh từng giúp tôi là các anh Triều Đẩu, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Nguyễn Hiến Lê. Anh Triều Đẩu tặng tôi mấy chữ “le critique des critiques”, nhưng nhắc tôi cần nêu rõ cơ sở định hướng cách nhìn, cách hiểu về thơ cùng cách định vị các thi gia để tránh gây thắc mắc do nhiều kết luận đưa ra.

Không dám coi nhẹ nhắc nhở của vị đàn anh mà tôi mến phục, tôi suy nghĩ và quyết định viết thêm một tập tóm lược toàn bộ nội dung bộ sách đã hoàn tất, ghi lại các luận cứ nền tảng khi tôi nhận định về tiến trình dòng thơ Việt từ 1900 tới 1960.

Gần 2 tháng sau, tôi thảo xong bản nháp tập sách.

Để bớt sai lầm, tôi thuê in ronéo 20 bản, trao cho một số bạn thân cùng các vị đàn anh để xin ý kiến trước khi bắt tay hoàn tất bản thảo.

Trong số ý kiến nhận được, tôi vẫn nhớ lời khuyên của anh Nguyễn Hiến Lê qua mấy dòng cuối lá thư dài bốn trang giấy. Anh cho biết một số điều anh không đồng ý với tôi, nhưng nhắc tôi nên giữ nguyên, vì theo anh, đó là cách hay nhất để thúc đẩy nỗ lực tiến gần đến sự thật do sẽ khơi gợi các ý kiến trái chiều rất cần có.

Tất nhiên tôi còn nhận thêm ý kiến của một số người khác và ba tháng sau, tôi hoàn thành bộ sách

Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 với 6 tập:

– 01: Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960, nhận định

– 02: Thi gia tiêu biểu giai đoạn Sơ Khai 1900-1930

– 03: Thi gia tiêu biểu giai đoạn Nền Móng 1930-1945

– 04: Thi gia tiêu biểu giai đoạn Phân Hóa 1945-1956

– 05: Thi gia tiêu biểu giai đoạn Chuyển Tiếp 1956-1960

– 06: Tuyển tập 1000 thi bản của gần 300 tác giả.


Sách dầy 488 trang – Ấn phí 25 usd.

Tôi đạt toàn dự tính vào cuối năm 1960 cũng là thời điểm mở đầu đưa tôi tới một khúc quanh đổi hẳn cuộc đời. Lúc đó, tôi đã có mặt ở miền Nam 7 năm nhưng chưa một ngày nào rời cảnh bấp bênh lận đận.

Cuối năm 1960 mức bấp bênh bất chợt gia tăng do vụ đảo chánh thất bại của đại tá Nguyễn Chánh Thi. Dù đi bên lề xã hội, tôi vẫn khó tránh tác động từ thời thế.

Lý do đơn giản là lúc đó tôi đang dạy môn Toán – Lý – Hóa tại mấy lớp đệ nhất cấp của trường Thái

Đức mà hiệu trưởng Nguyễn Thành Vinh lại bị bắt vì dính líu với đại tá Thi. Hậu quả hiển nhiên là bất kỳ ai liên hệ với trường Thái Đức đều rơi vào tầm nhìn của giới an ninh, trong khi tôi đang sống nhờ mấy tờ giấy giả và luôn chui lủi dưới các mái chùa.

Một cơ duyên hết sức tình cờ đã giúp tôi được đặt chân lên đoạn đường êm ả ngoài mức tưởng tượng.

Cụ thể là thuở đó, anh Paul Hiếu hàng tuần thường tới dự các buổi họp mặt văn nghệ tại nhà anh Nguyễn Đức Quỳnh. Đột nhiên một đêm anh bỗng nhắc tôi ngay hôm sau tới đài phát thanh Sài Gòn gặp giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh.

Thấy tôi ngơ ngác, anh giải thích tôi sẽ trở thành nhân viên đài Sài Gòn do anh đã sắp đặt xong.

Tôi càng ngơ ngác hơn, vì suốt 7 năm qua, tôi chưa hề có mảnh giấy tùy thân nên luôn phải che giấu tung tích.

Trước vẻ sững sờ tột độ của tôi, anh Paul Hiếu vốn là Ngô Trọng Hiếu đương kim bộ trưởng Bộ Công Dân Vụ lúc đó, nhắc lại như ra lệnh: “Sáng mai tới ngay đài Sài Gòn, xin gặp giám đốc. Khỏi nói gì nữa. Moa biết hết về toa rồi. ”

Giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh thuở đó là thiếu tá Phạm Xuân Ninh tức nhà thơ Hà Thượng Nhân mà tôi đã gặp qua nhiều sinh hoạt giấy bút mỗi khi có dịp ghé Sài Gòn.

Anh Ninh hơn tôi hơn mười tuổi nhưng luôn coi tôi như một bạn trẻ thân thiết.

Sáng hôm sau, tôi tới đài và được đưa vào phòng giám đốc gặp anh.

Anh nhắc tôi ngồi xuống và nói ngay:
“Lát nữa xuống phòng hành chánh, nói là moa đã tuyển toa làm nhân viên của đài rồi để họ làm thủ tục.”

Rồi anh nhắc thêm một câu ngoài hẳn tưởng tượng của tôi:
“Cứ nghĩ ra một cái tên gọi gì cũng được cho nhân viên làm giấy tờ và hẹn sẽ nộp chứng từ sau.”

Sáng hôm đó trở thành buổi sáng thần kỳ vì mọi sự xẩy ra với tôi đều như phép lạ.

Tôi vừa có việc làm với lương bổng vững vàng vừa chấm dứt tức khắc cảnh sống bên lề xã hội do đã nắm trong tay tấm thẻ nhân viên Nha Vô Tuyến có thể dùng bất cứ khi nào cần thay cho tấm thẻ căn cước mà tôi chưa từng có và chưa bao giờ tưởng tượng sẽ có — dù cái tên ghi trên thẻ nhân viên vẫn là tên giả do tôi nghĩ ra khi bước trên mấy bậc cầu thang từ phòng giám đốc Nha Vô Tuyến xuống phòng hành chánh.

Buổi trưa, sau khi hoàn tất mọi thủ tục và nhận các giấy tờ, tôi lên lầu gặp lại anh Ninh.

Anh cười thoải mái cho biết tôi chỉ còn đúng một tuần lễ ở Sài Gòn để lo mọi thứ cần thiết.

Vì tuần tới tôi phải có mặt tại Ban Mê Thuột với vai trò phụ trách chương trình đài Tiếng Nói Cao Nguyên Trung Phần vừa dựng xong tại Ban Mê Thuột đang chờ khởi sự hoạt động.

Việc làm ngay lúc đó của tôi là mỗi buổi sáng phải tới đài Sài Gòn nghe các chuyên viên chỉ dẫn về mọi chi tiết công việc cùng cách thực hiện ra sao.

Dịp này, tôi được giới thiệu một bạn trẻ sẽ cùng tôi đi Ban Mê Thuột là Nguyễn Nghiệp Nhượng vừa gia nhập làng thơ. Tôi chưa từng gặp Nhượng nhưng chúng tôi gắn bó ngay như anh em một nhà.

Chuyện thơ văn đối với tôi không còn là vấn đề, tương tự cảnh ngộ bấp bênh lận đận kể như đã lùi vào dĩ vãng.

Đặt chân tới Ban Mê Thuột, ngoài Nguyễn Nghiệp Nhượng, tôi chỉ quanh quẩn với 4 người miền núi thuộc các sắc tộc Sedang, Koho, Jarai, Êđê là Y Phò, Cil Đinh, Nay Ju, Pierre Lem.

Mấy người này đều rành tiếng Việt, riêng Y Phò thạo tiếng Pháp và biết cả tiếng Đức vì từng sống ở Âu Châu. Năm đó Y Phò ở tuổi ngũ tuần và đặc biệt còn biết nhiều thứ tiếng Thượng nên tôi đặt ông vào vai phụ tá lo các chương trình Thượng ngữ kiêm thêm việc dạy tôi tiếng Thượng, khởi đầu là tiếng Êđê.

Công việc không nặng nhọc, nhưng chiếm hết thời giờ, nhất là tôi luôn nghĩ về sự tin cậy và tình thương mà hai anh Ngô Trọng Hiếu, Hà Thượng Nhân dành cho.

Tôi thấy tôi mãi mãi vô phương báo đáp tình thương đã nhận nên chỉ còn tự nhủ cố gắng tối đa trong công việc để khỏi phụ lòng tin của các anh ấy.

Mấy ngày cuối ở Sài Gòn, tôi được biết đài Ban Mê Thuột có khả năng phát sóng lớn chỉ thua đài Sài Gòn và mục tiêu hết sức quan trọng là chinh phục các sắc tộc miền núi do vùng cao nguyên đang là địa đầu xâm nhập của chế độ Hà Nội.

Nhưng trước mắt tôi lúc đó là đám sương mù dày đặc về cách sống và suy tư của toàn bộ người Thượng. Hiểu biết của tôi chỉ là con số không cực lớn nên tôi khó rời mối ám ảnh khi ngồi trước máy phát thanh, các nhân viên sẽ thoải mái đọc khác với bài viết do Y Phò đã kiểm tra. Bởi giả dụ tôi hiểu nổi tiếng Êđê thì vẫn điếc đặc trước các chương trình Koho, Sedang, Jarai.

Tuy nhiên chỉ ít lâu sau, ám ảnh này được giải tỏa khi cả ba nhân viên Thượng đều trở thành bạn tôi và tôi có dịp biết thêm về cách ứng xử thường nhật của người miền núi.

Hôm đó, sau buổi phát thanh sáng, tôi rủ Y Phò về thị xã Ban Mê Thuột uống cà phê. Tôi chỉ rủ Y Phò vì đã biết nếu rủ hết bốn người, tôi sẽ phải uống 5 ly do mỗi người được rủ đều tức khắc “trả nợ.” Dù vậy, buổi uống cà phê cũng kéo dài hơn một giờ, sau phần “trả nợ” của Y Phò.

Suốt thời gian đó, tôi không thể rời mắt khỏi một bà già Thượng ngồi bệt trên vỉa hè ngay trước quán cà phê với bó trái cây lớn đặt trước mặt.

Tôi đã biết người miền núi vẫn mang đồ ra bán tại thị xã nhưng lạ lùng thấy bà luôn lắc đầu với người dừng lại chỉ bó trái cây hỏi mua. Khi bà lắc đầu với người thứ năm thì tôi phải nêu thắc mắc với Y Phò sao bà đem hàng ra chợ mà không chịu bán?

Y Phò bảo đó là chuyện thường vì bà đem hàng ra chắc chỉ để trao cho người mà bà hẹn từ nhiều ngày trước nên ngồi chờ người đã hẹn. Y Phò nói thêm bây giờ có ai trả giá gấp nhiều lần bà cũng không thể bán, vì làm thế là “sai lời hứa, phạm tội với thần linh.”

Sự “sợ mắc nợ” của các bạn Thượng từng khiến tôi cười thích thú, nhưng tôi thấy phải cúi đầu kính nể trước bà già ốm yếu tả tơi kiên trì giữ đúng lời hứa.

Mối ngờ vực luôn ám ảnh tôi kể như được xóa hẳn, vì các bạn Thượng đều đã hứa làm đúng ý tôi và tôi có thể yên tâm bỏ việc học các ngôn ngữ Koho, Jarai, Sedang.

Ngay lúc đó tôi bỗng nhớ về hình ảnh bà mẹ trong lời ca bài Bà Mẹ Quê của Phạm Duy mà tôi từng nhắc khoảng 5, 6 năm trước tại Câu Lạc Bộ Văn Nghệ ở đường Phan Đình Phùng, Sài Gòn.

Đêm đó, tôi vừa từ Châu Đốc về Sài Gòn, và tới đây được đẩy ngồi chung bàn cùng mấy văn nghệ sĩ lớn tuổi trong số có Phạm Duy. Mọi người đang nói về bài Những Nẻo Đường Việt Nam của Thanh Bình và Phạm Duy phát biểu: “Thằng này mà tiếp tục làm nhạc thì moa sẽ thua nó cả về nhạc lẫn về lời.”

Phát biểu của Phạm Duy khiến tôi vô cùng hứng thú vì Thanh Bình là anh họ tôi.

Thuở ở Hà Nội, trên căn gác nhỏ tại ngôi nhà số 35 phố hàng Bè, tôi đã qua nhiều đêm mải mê ngắm Thanh Bình ngồi bên ngọn đèn dầu, miệt mài viết và không lâu sau trở thành cây bút được mến mộ với hai tập truyện dài Gió Dập Mưa Vùi và Mình Còn Trẻ Lắm do Tia Sáng ấn hành.

Tôi càng phục Thanh Bình hơn khi anh sáng tác nhạc, nhưng tôi khó chịu vì lời ca Những Nẻo Đường

Việt Nam có hai từ “cộng quân” mà tôi cứ thấy sẽ hạ thấp bài ca:

… Yêu là yêu, là yêu không bờ bến rồi

Sao cộng quân đành tâm chia đường cách đôi?

Tôi tự nhủ phải nói với Thanh Bình điều này nhưng chưa có dịp gặp lại nhau.

Vì thế, khi Phạm Duy nói dứt, tôi lập tức nêu sự khó chịu về hai từ “cộng quân” có thể gây hiểu lầm bài ca là sản phẩm tâm lý chiến, nặng tinh thần phe phái, sẽ hạ giảm tác động gợi nhắc tình yêu quê hương đất nước.

Ký giả kiêm kịch sĩ Lê Văn phản đối tôi, cho rằng hai từ “cộng quân” kích thích tinh thần chống Cộng trong quần chúng sẽ góp phần tạo điều kiện giành thắng lợi cho lực lượng quốc gia miền Nam. Lê Văn còn có bút hiệu Vũ Bắc Tiến vẫn luôn cổ võ định hướng nghệ thuật một chiều y hệt chủ trương của chế độ Hà Nội.

Trước sự im lặng của mọi người, tôi nêu hai điều mà tôi nghĩ là người cầm bút nào cũng cần lưu ý.

Thứ nhất, mục tiêu đấu tranh chính xác mà người Việt Nam đang theo đuổi là giành lại cuộc sống dân tộc bị cướp đoạt từ thế kỷ 19 và đang bị đày đọa bởi chủ trương độc chiếm quyền lực của chế độ Hà Nội.

Thắng lợi mà miền Nam phải giành chỉ là điều kiện để đạt mục tiêu đó. Từ đây, việc cần làm với người cầm bút là góp phần thúc đẩy tinh thần yêu nước thay vì phân biệt phe phái, bởi mục tiêu giành lại cuộc sống dân tộc rõ ràng không cho riêng người miền Nam mà cho hết thẩy mọi người đang sống trên lãnh thổ

Việt Nam, kể cả những kẻ u mê bị lừa gạt hoặc hèn mạt bị sai khiến đang chĩa họng súng vào chúng ta.

Tóm lại, cần tránh nhìn lệch chính nghĩa của mục tiêu để hạ thấp cuộc đấu tranh đang theo đuổi xuống hàng giành giựt hơn thua giữa phe này với phe nọ.

Thứ hai là về lời ca, tôi nghĩ những hình ảnh sống sẽ có tác dụng nhiều hơn mọi lời lẽ khẩu hiệu. Tôi nêu thí dụ cụ thể là tôi từng xúc động trước hình ảnh bà mẹ Việt Nam, một bà mẹ quê trong lời ca của Phạm Duy qua mấy lời giản dị
“miệng khô, miệng khô nhớ bát nước đầy, nhớ bà mẹ quê xưa ấy.”
Từ hình ảnh này, tôi luôn thấy một bà mẹ đầy lòng nhân hậu kèm theo là lòng nhớ ơn của người đã nhận được chỉ một bát nước.

Tôi vừa dứt lời, Phạm Duy lập tức đập vai tôi nói lớn:
“Đúng rồi. Kể từ lúc này, tụi mình là bạn.”

Rồi anh tiếp: “Nhớ là phải mày, tao. Không mày tao, đéo chơi!”

Đây là lần đầu tiếp xúc với Phạm Duy nên tôi sững người về lối nói của anh.

Tôi càng sững hơn khi chính Lê Văn tán trợ Phạm Duy, nắm tay tôi lắc mạnh.

Nối sau là đạo diễn Thiếu Lang cũng bắt tay tôi.

Hai anh Lê Văn, Thiếu Lang còn lớn tuổi hơn Phạm Duy nên tôi chỉ biết đề nghị: “Các anh muốn xưng hô sao cũng được, nhưng xin cho tôi tutoyer thôi.”

Lạ lùng là chỉ ít ngày sau khi tôi nhớ về buổi tối đó, Phạm Duy bất ngờ xuất hiện tại đài Ban Mê Thuột. Anh được xe của Ty Thông Tin Darlac đưa tới cùng hơn hai mươi nhạc công miền núi mang theo đủ loại nhạc cụ. Phạm Duy bảo đang tìm hiểu âm nhạc miền núi nên cần trực tiếp nghe nghệ sĩ miền núi trình diễn.
Anh nhắc tôi dành cho anh một phòng vi âm và giúp ghi âm mọi buổi trình diễn có thể kéo dài hai tuần lễ. Anh cũng cần một người biết tiếng Thượng luôn ở bên cạnh để anh hỏi han các nhạc công những điều cần thiết.

Sự có mặt của Phạm Duy và đám nghệ sĩ miền núi vừa gây xáo trộn thời biểu làm việc của tôi vừa đẩy tôi trở lại cảnh mù mịt đã có về cuộc sống miền núi.

Những lúc ngắm Phạm Duy ôm cây đàn ghi-ta diễn lại từng đoạn nhạc mà đám nghệ sĩ miền núi vừa trình tấu, rồi hỏi họ điều này, điều nọ…, tôi không ngăn nổi thắc mắc về các chương trình phát thanh mà tôi đang thực hiện được phổ biến ra sao, tiếp nhận thế nào tại các vùng đất mà tôi chưa hề đặt chân tới, thậm chí còn không biết ở đâu.
Trong khi đó, tôi đoan chắc hầu hết người miền núi đều chưa biết đến chiếc máy thu thanh và toàn vùng cao nguyên chưa thể có điện.

Như vậy, sự góp phần thực hiện một nhiệm vụ quan trọng như tôi từng được nhắc có vẻ chỉ là ảo tưởng. Chúng tôi đang hướng họng súng lên trời và say sưa nhả đạn vào không trung!

Tôi nêu ngay ý nghĩ này với anh Hà Thượng Nhân, và qua điện thoại, đã nhận một câu trả lời đầy tự tin pha lẫn hài hước: “Mọi việc đã có người khác lo. Các toa cứ tiếp tục bắn lên trời đi.”

Câu trả lời không giúp tôi hết thắc mắc nhưng tự hiểu giới hạn vai trò của mình và thoải mái nghĩ về một lời nhắc mà Phạm Duy từng bất chợt đưa ra.

Vào ngày rời Ban Mê Thuột, anh bỗng hỏi tôi:
“Moa mới đúng là thi sĩ, sao sách của toa không nhắc đến?”
Gần hai năm trước tôi đã trao bản nháp tập nhận định về Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 cho Phạm Duy để xin ý kiến, nhưng anh vẫn nín thinh. Khi nghe hỏi, tôi nói anh đúng là thi sĩ nhưng chỉ làm nhạc thôi.
Lập tức anh hỏi tiếp: “Vậy sao không viết về nhạc?”

Câu hỏi ném ra khơi khơi theo cách nói bạt mạng của Phạm Duy cứ lởn vởn trong đầu tôi rồi trở thành câu hỏi nghiêm túc vào mấy tháng sau, khi tôi nhận cuộn băng ghi một số sáng tác mới của Phạm Duy do đài Sài Gòn gửi lên.

Tôi nghe nhạc Phạm Duy từ tuổi thiếu niên trong vùng kháng chiến và trước khi rời Hà Nội đi Sài Gòn gần như luôn bị hút hồn bởi bản Tình Ca qua giọng hát Thái Thanh.

Lúc mở cuộn băng vừa nhận, tôi ngỡ như mình đang ngồi bên đám lửa bập bùng giữa đêm đen dày đặc ở một buôn bản nào đó với âm vang dồn dập ngùn ngụt bốc lên xua tan bóng tối tràn ngập núi rừng.

Phạm Duy không chuyển hóa mà chỉ tái tạo các âm điệu đang quen dần với tôi cùng lời ca mộc mạc nhưng chứa một sức mạnh kinh hồn đập thẳng vào tim người nghe.

Cả bốn bạn Thượng đều buông bút, chống tay lên bàn nhìn cuộn băng khi lời ca cất lên:

Anh em ta… cùng mẹ cha… theo chuyện cũ

Trong tích xưa… khi núi non… còn mịt mờ

Xưa khi xưa… Mẹ đẻ ra… trăm cái trứng

Trăm đứa con…chung máu Tiên…cùng một giòng

Một đề nghị được đồng loạt đưa ra là phải cho phát ngay các bài ca này trên mọi chương trình.

Với riêng tôi lúc đó, câu hỏi của Phạm Duy từ mấy tháng trước bừng sống dậy: “Vậy sao không viết về nhạc?”
Rất nhanh, tôi thấy bên cạnh bộ Thơ Việt Hiện Đại 1900 – 1960 mà tôi vừa hoàn tất cần thêm hai bộ sách về văn và nhạc để lưu lại các chứng tích gợi nhắc sự cần thiết có mặt trong cuộc sống của hai bộ môn này. Thật lạ là giữa lúc tôi đang suy nghĩ tìm cách hình thành cụ thể dự tính thì nhận được lệnh trở về Sài Gòn.

Một tin vui cực lớn!

Tới lúc đó tôi đã xa Sài Gòn hơn một năm và vẫn nghĩ việc tôi lên Ban Mê Thuột là do hai anh Ngô Trọng Hiếu và Hà Thượng Nhân muốn giúp đưa tôi tới một địa bàn an toàn.

Như vậy, được trở về Sài Gòn, tôi không chỉ có cơ may trở lại với sinh hoạt giấy bút mà còn thấy cảnh bấp bênh nguy hiểm của tôi có thể đã qua rồi.

Nhưng niềm vui của tôi không kéo dài.

Chỉ ba ngày sau, khi gặp anh Hà Thượng Nhân tại Sài Gòn, tôi lại nhận chỉ thị ra ngay Quảng Ngãi lo  một đài phát thanh vừa dựng xong.

Thế là cũng như hơn một năm trước, tôi chỉ có mặt tại Sài Gòn vỏn vẹn một tuần.

Mấy ngày ngắn ngủi này, tôi chỉ làm được một việc nhỏ là về căn phòng tại ngôi nhà của anh bạn Nguyễn Sỹ Hưng ở đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận, lôi hết đống bản thảo trong chiếc thùng thiếc ra phủi bụi, đặt trên góc bàn. Lúc ngắm tập bản thảo là lúc tôi nhủ thầm sẽ cố gắng tăng thêm độ dày bằng hai bộ sách về văn và nhạc.

Trên đường ra Quảng Ngãi, lần đầu tôi được biết về xe lửa và có dịp ghi nhận thêm nhiều hình ảnh Việt Nam khác hẳn những dòng sông luôn vang vọng dư âm giọng hò từ các thôn xóm ven bờ cùng những ngõ đất mịn màng mát rượi dưới bóng dừa tại miền Tây.

Đài Quảng Ngãi đã có bộ phận lo về chương trình và có thêm hai giọng nữ xướng ngôn kinh nghiệm từ Sài Gòn là Minh Tần, Song Hạnh nên công việc của tôi khá nhàn.

Tôi đã có thời giờ lên chùa Thiên Ấn tìm hiểu về lịch sử cùng con người đất Quảng và thường xuyên ghé vùng Sông Vệ để biết về lai lịch cùng đặc trưng món Mì Quảng, đồng thời tiếp xúc với nhiều giới địa phương. Do đó, một ngày có một cô bé khoảng mười bốn, mười lăm tuổi đã níu tay tôi đề nghị giúp cô được hát trên đài.

Thấy cô bé có giọng ca đặc biệt, nhất là cô sinh trưởng tại Quảng Ngãi nhưng phát âm chuẩn cả ba giọng Bắc – Trung – Nam nên tôi nhắc anh em giúp cô đạt mơ ước. Không ngờ mấy năm sau tôi lại gặp cô ở Sài Gòn với tư cách bạn đời của Nguyễn Nghiệp Nhượng và là nữ ca sĩ Hồng Vân tên tuổi lẫy lừng của ban Tam Ca Đông Phương cùng giọng ngâm thơ trong chương trình Tao Đàn của Đinh Hùng.

Tôi ở Quảng Ngãi chỉ hơn nửa năm thì được lệnh ra Đà Nẵng. Đài Đà Nẵng hoạt động từ lâu, mọi việc đều có nề nếp nên hai tháng sau, tôi nhận một tin làm sống lại niềm vui đã bị dập tắt.

Đó là chỉ thị trở về Sài Gòn.

Cảnh lênh đênh của tôi thực sự chấm dứt khi anh Hà Thượng Nhân cho biết tôi sẽ về phòng Bình Luận, lo phần Thời Sự Cuối Ngày phát vào đêm khuya nên tôi chỉ cần có mặt từ 6 giờ chiều và trao bài thẳng cho xướng ngôn viên thay vì phải đưa qua ban kiểm duyệt như các bạn làm theo giờ hành chánh.

Lúc này là mùa Xuân 1963, tính ra tôi đã rời Sài Gòn 2 năm.

Dù vẫn thiếu tấm thẻ căn cước và hồ sơ hành chánh tại đài vẫn chưa có mảnh chứng từ nào, tôi không bận tâm về chuyện đó. Thêm nữa, tôi đã có một phòng riêng tại căn nhà của Nguyễn Sỹ Hưng để thực sự

an cư và có thể thoải mái theo đuổi mọi dự tính vì không phải đến đài trong giờ hành chánh.

Hàng ngày tôi đi quanh mấy tiệm sách tìm các tác phẩm chưa đọc hoặc chưa từng biết, đồng thời ghé qua tòa soạn mấy tạp chí tương quan từ lâu để trao bài viết hoặc gặp gỡ bạn bè.

Nhân đó, tại tòa soạn tạp chí Giáo Dục Phổ Thông lại xảy ra một chuyện dính tới bộ Thơ Việt Hiện Đại đã trở thành kỷ niệm khó quên.

Tại đây, mấy bữa trước tôi đã gặp Bùi Giáng và nghe anh hỏi
“viết về thơ Xuân Diệu chưa?”

Bùi Giáng biết tôi viết về thơ từ mấy năm trước nhưng anh luôn nghĩ tôi đang viết và luôn chỉ nghĩ tới thơ Xuân Diệu.

Tôi trả lời cho qua là sắp viết.
Anh lập tức dặn “viết về thơ Xuân Diện cần tuyệt thực để tịnh khẩu tịnh tâm” rồi dặn thêm
“nếu viết vào ban đêm không được mở đèn điện mà phải đốt đèn cầy.”

Tôi gật đầu do đã hiểu bạn, vì giữa hai chúng tôi từng xảy ra các bất đồng kỳ cục.

Bùi Giáng biết nhiều ngoại ngữ, ham đọc sách và viết bài thường trích các điều đã đọc. Anh trích mà không dịch nên có lần đọc bài của anh kèm nhiều đoạn tiếng Đức, tôi khó chịu nhắc phải dịch. Anh bảo “dịch là phản” nên tùy người đọc. Tôi nói người đọc như tôi còn không hiểu thì đa số người đọc khác làm sao hiểu.
Anh liền đập bàn nạt lớn: “Mày ngu mà làm biếng. Thằng con nít Phạm Công Thiện học được, sao mày không học?”

Tôi cũng như bạn bè đều hiểu không thể bàn cãi điều gì với Bùi Giáng nên chỉ biết cười tỏ vẻ theo ý anh.
Lần gặp lại này, anh lại nhắc về thơ Xuân Diệu và hỏi đúng câu hỏi mấy ngày trước.

Tôi đáp viết xong rồi. Anh hỏi tiếp “Có làm đúng lời tao dặn không?”

Tự nhiên tôi bỗng muốn nói ngược lại coi ra sao nên trả lời:
“Tao quên béng hết nên vẫn ăn uống và bật đèn điện như thường.”
Lập tức anh vùng bật dậy. Anh hét lớn, chụp chiếc máy chữ liệng thẳng vào người tôi.
Tôi né kịp thì chiếc máy chữ rớt xuống sàn xi măng bể nát.

Tổng thư ký tòa soạn Vũ Anh Tuấn vội lao ra đứng chắn trước tôi giữa lúc Bùi Giáng điên cuồng xông tới. May là Bùi Giáng kịp nhận ra Vũ Anh Tuấn nên tức tối la hét rồi bước ra đường.

Sự vụ ngưng tại đó nhưng sống mãi nơi ký ức tôi.

Việc viết lách quấn quanh tôi từng ngày qua các sinh hoạt vụn vặt như vậy, nhưng tôi lại không dễ đạt điều kiện cầm bút theo dự tính, dù đã có mặt ở Sài Gòn.

Vì đúng lúc tôi đang cân nhắc nội dung bộ sách về môn văn thì nổ ra vụ Phật Giáo biểu tình đổ máu tại Huế. Từng qua nhiều ngày nương tựa dưới mái chùa nên tôi vội lên chùa Sùng Đức ở Thủ Đức thăm hòa thượng Thích Đức Tuệ đồng thời để hỏi rõ về tình hình.

Tại đây, tôi thấy đang có mặt hầu hết môn đệ của hòa thượng gồm các thượng tọa Tuệ Hải, Tâm Châu, Độ Lượng, Thanh Long… Thượng tọa Tâm Châu kéo tôi ra một góc, nhắc rời chùa ngay và dặn thêm từ nay tuyệt đối không được bén mảng tới chùa nào.

Từ lâu tôi đã biết thời khoảng 1949-1950, thượng tọa Tâm Châu từng cùng giám mục Lê Hữu Từ lập Lực Lượng Võ Trang Liên Tôn Chống Cộng tại vùng Bùi Chu – Phát Diệm nên hiểu ngay thời gian tới sẽ khó khăn và thấy cần phải làm theo lời dặn.

Dù chưa gặp hòa thượng Đức Tuệ, tôi vẫn rời chùa Sùng Đức và suốt thời gian sau đó, không ghé chùa nào, kể cả chùa Quán Thế Âm kế cận nhà Nguyễn Sỹ Hưng mà tôi đang ở.

Hàng ngày, tôi tới đài Sài Gòn trong giờ hành chánh loanh quanh tại phòng thư viện.

Tôi cố gạt thời thế ra xa, vùi đầu vào sách vở giữa lúc Sài Gòn căng thẳng không khí biểu tình và như bốc lửa khi vị hòa thượng trụ trì chùa Quán Thế Âm là hòa thượng Quảng Đức tự thiêu.

Một đêm khuya, giữa lúc tôi đang ngồi trước bàn viết thì phía ngoài đột ngột vang lên tiếng đập cửa liên tục. Nguyễn Sỹ Hưng choàng dậy, bật đèn, ra mở cửa.

Tôi vừa nghe tiếng ồn ào dội vào thì ngay phòng tôi đã hiện ra một đám đông.

Một người mặc sắc phục cảnh sát tới hỏi giấy tôi.

Anh ta chỉ liếc sơ tấm thẻ nhân viên Nha Vô Tuyến do tôi trao, rồi ra lệnh:

– Đứng lên! Đi theo tôi!

Anh dẫn tôi ra cửa, chỉ chiếc xe đậu sẵn nói tiếp:

– Lên xe!

Dưới ánh đèn điện, tôi đọc ngay được số xe và nhận ra chiếc xe tôi đã thấy nhiều lần vào các dịp ghé gặp Nguyễn Tường Bá ở văn phòng luật sư Trịnh Đình Thảo. Tôi không tương quan gì với luật sư Trịnh Đình Thảo, nhưng bạn tôi, Nguyễn Tường Bá tập sự ở phòng luật của ông. Do đó, đã vài lần ông ngoắc tôi vào phòng hỏi vu vơ về thời thế.

Lập tức tôi nghĩ ông đã bị bắt và có thể tôi đang bị tình nghi dính dáng với ông.

Khoảng một giờ sau, tôi bị đưa vào một phòng giam bên đường Cộng Hòa đang có một người tù chính là luật sư Thảo. Ông nhìn tôi trân trân lúc cai tù mở cửa, nhưng khi tôi bước vào phòng thì ông lặng lẽ quay đi như không hề quen biết, nằm xuống ngủ.

Tôi dựa lưng vào vách, ngồi nghĩ quẩn quanh và thấy tôi không bị bắt vì dính với luật sư Thảo.

Kinh nghiệm tù cho biết không thể giam các tù nhân cùng vụ chung một phòng.

Một nghi vấn nổi lên: Vậy sao mình bị bắt?

Tôi lập lại câu hỏi này nhiều lần với thẩm tra viên vào các dịp bị hỏi cung.

Lời đáp tôi nhận được chỉ là những tiếng chửi tục tằn kèm theo các cú đấm đá hung bạo đã trở thành nguồn vui cho những kẻ óc heo, tim sói. Các lời đáp chỉ lưu lại trên thân xác tôi những vết đòn thù và  không bao giờ giúp tôi hiểu tại sao mình bị bắt.

Sau những ngày hỏi cung tăm tối đó, tôi luôn bị đổi phòng do lượng tù tăng dồn dập.

Đã nhiều đêm, ngoài số ít người may mắn được tựa lưng vào vách, chúng tôi đều phải dựa lưng vào nhau để ngủ ngồi vì không đủ chỗ nằm.

Đây là lúc tôi gặp lại nhiều bạn quen trong giới cầm bút như Hư Chu, Vũ Tài Lục, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Hoài… và có thêm một số bạn trẻ sinh viên như Trần Đình Thọ, Vũ Văn Lê, Vũ Hà Anh, Đào Vũ Anh Hùng, Nguyễn Trọng Cảnh… đồng thời biết thêm vài điều về tình hình ở ngoài bốn bức vách nhà tù.

Rồi tôi lại đổi phòng và được đẩy vào căn phòng sát cửa ra vào.

Phòng nhỏ nhưng chúng tôi đã được nằm vì chỉ có 12 người. Một bạn thì thầm nhắc chúng tôi có thể sắp bị chuyển trại và không biết sẽ bị đưa tới đâu.

Chỉ mấy ngày sau, thắc mắc được giải đáp do chính một cai tù nói thẳng là chúng tôi “sẽ được đưa đi Côn Đảo trong tuần lễ tới.” Tiết lộ này khiến tất cả đều xám mặt vì thấy đang đối diện với một tương lai mù mịt kéo dài vô thời hạn.

Nhưng ngay hôm sau, tất cả lại vỡ òa niềm vui đắm mình giữa vùng ánh sáng chói chang.

Hôm đó chúng tôi bị mất phần ăn sáng do không thấy ai mang tới và cai tù cũng không xuất hiện.

Tất cả đều ngơ ngác nhìn nhau.

Càng hoang mang hơn khi bữa ăn trưa mất luôn và phía ngoài vẫn vắng lặng.

Đột nhiên mảnh sân trước cửa ra vào lố nhố binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến, rồi một tiếng súng nổ chát chúa. Cánh cửa mở toang và toán binh sĩ tràn vào hành lang. Một binh sĩ nói lớn là chúng tôi sẽ được tự do khi họ tìm thấy cai tù để có chìa khóa mở cửa phòng giam.

Chúng tôi mất hai bữa ăn nhưng không còn nghĩ đến ăn.

Tối đó là một đêm không ngủ và sáng hôm sau, cửa phòng giam chúng tôi mở ra trước nhất.

Tôi được đặt chân trên đường phố Sài Gòn và nghĩ ngay tới sự trở lại với chiếc máy chữ điện ít ai thèm ngó tại đài Sài Gòn. Bóng dáng gian truân ám ảnh tôi suốt mười năm hoàn toàn tan biến.

Vùng sáng càng bừng sáng hơn khi phía trước tôi luôn hiện ra nối tiếp trên đường phố nhiều đám đông nhảy múa reo hò. Tuy nhiên, vùng sáng đó vụt tắt ngay khi tôi bước vào căn phòng nhỏ ở đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận.

Trước mắt tôi là chiếc bàn gỗ trống trơn.

Nguyễn Sỹ Hưng cho biết công an đã ôm đi toàn bộ bản thảo từ buổi tối tôi bị bắt.

Không riêng bộ Thơ Việt Hiện Đại 1900 – 1960 mà hết thẩy các trang viết tôi đem theo từ khi rời Hà Nội cuối năm 1953 cùng những gì viết trước năm 1956 tới sau năm 1960 đều không còn nữa. Ngày trở về bỗng trống vắng mênh mông vì các hình bóng thân yêu từng gắn bó chỉ còn là sương khói.

Dù vậy, tôi vẫn may mắn được trở lại với chiếc máy chữ điện quen thuộc tại đài Sài Gòn và càng may hơn khi thượng tọa Tâm Châu giúp chúng tôi có giấy phép xuất bản nhật báo Tin Sáng do Lý Đại Nguyên đứng tên chủ nhiệm. Tôi thực sự được gắn với sinh hoạt giấy bút nhưng xa cách hơn với dự tính về hai bộ sách nối theo bộ Thơ Việt Hiện Đại đã không còn dấu vết.

Rồi tai họa lại theo nhau kéo đến do diễn biến thời thế luôn đẩy chúng tôi vào cảnh phải đối đầu với những người đang nắm quyền.

Báo Tin Sáng thấy phải chống lại sự lạm dụng pháp luật chỉ nhắm vỗ về một tâm lý hận thù vô cớ qua các phiên xử Ngô Đình Cẩn cùng vài viên chức an ninh cũ tại Huế. Tờ báo cũng không thể câm nín trước các mưu toan đẩy tập thể Công Giáo vào thế đối kháng với tập thể Phật Giáo. Bởi không thể tìm sự an toàn cho bộ máy đương quyền bằng cách kích động sự phân ly đối kháng giữa các tôn giáo trong khi nhu cầu đoàn kết toàn dân đang là nhu cầu khẩn thiết trước hiểm họa mà chế độ Hà Nội đang phát động. Tờ báo đã trở thành cái gai trước mắt những người chỉ thấy địa vị quyền lực của riêng họ mới cần bảo vệ.

Cuối cùng, giọt nước tràn ly rớt xuống khi tờ báo phản đối việc chính phủ yêu cầu Mỹ đưa quân vào  Việt Nam, vì mục tiêu đấu tranh giành thống nhất đất nước và sự sống cho dân tộc đã vô tình bị biến dạng thành mục tiêu hơn thua phe phái trong khi chính nghĩa yêu nước bỗng được trao cho kẻ thù khai thác.

Tờ báo bị đóng cửa và nhóm chủ trương lập tức đối mặt với nhà tù. Riêng tôi còn nhận quyết định sa thải khỏi Nha Vô Tuyến với lý do “hoạt động chính trị.”

Nhưng tai họa không kéo dài nên chỉ vài tháng sau, tôi lại ung dung đặt chân trên đường phố và có việc làm mới là điều hành tuần báo Sài Thành.

Một buổi trưa, cựu đại úy phi công Nhã Điển đang là biên tập viên tin tức đài Sài Gòn đột ngột xuất hiện tại tòa báo. Nha Vô Tuyến lúc này đã đổi thành Cục Vô Tuyến và có tổng giám đốc là thiếu tá Vũ Đức Vinh tức nhà văn Huy Quang, tác giả tiểu thuyết Đôi Ngả xuất bản tại Hà Nội đầu thập niên 1950.

Nhã Điển nói thiếu tá Vũ Đức Vinh thắc mắc về việc tôi vắng mặt tại đài và khi được Nhã Điển cho biết lý do, đã nhắc Nhã Điển đi kiếm gọi tôi về ngay để tiếp tục công việc.

Phép lạ ngày nào đưa tôi vào đài phát thanh Sài Gòn lại tái hiện.

Trên thực tế, anh Vũ Đức Vinh chưa hề gặp tôi trước đó nên tôi chỉ có thể nghĩ tôi đã may mắn cùng cực khi các cơ duyên bất ngờ luôn đưa tôi tới bên các con tim nồng ấm tình người.

Nhưng tôi không được ngồi lâu tại phòng Bình Luận và còn phải từ bỏ công việc tại báo Sài Thành.

Bởi chỉ vài tháng sau, tôi bỗng được gọi lên gặp gấp tổng giám đốc.

Không úp mở, anh Vũ Đức Vinh cho biết Cục Vô Tuyến vừa chịu một tổn thất tại Vùng 2 Chiến Thuật: Đặc phái viên mặt trận Khuất Duy Hải mới tử nạn tại mặt trận Đức Cơ. Theo anh Vinh, cao nguyên đang là đầu cầu để chế độ Hà Nội đưa quân xâm nhập miền Nam nên phải theo dõi tin tức từng ngày từng giờ. Anh kết luận:
“Moa đã cân nhắc và thấy không có ai thích hợp để thay Khuất Duy Hải, ngoài toa. Bây giờ toa tính sao?”

Nét băn khoăn của anh Vũ Đức Vinh trước một cảnh nan giải khiến tôi thấy phải chia xẻ cùng anh.

Anh chỉ hơn tôi 2 tuổi nhưng chúng tôi cùng một họ mà theo cách nghĩ tôi luôn được nghe nhắc hàng ngày từ tuổi ấu thơ là “ba trăm năm trước cùng chung một mái nhà, cùng có một người cha” nên trong thầm lặng, tôi vẫn coi anh như người anh trong gia đình. Để anh hết ưu tư, tôi nói tôi đã quen với vùng cao nguyên và gần súng đạn từ lâu nên không thấy có gì trở ngại.

Thế là lúc Cục Vô Tuyến Truyền Thanh lo tổ chức tang lễ cho Khuất Duy Hải cũng là lúc tôi rời Sài Gòn bay lên Pleiku thế chân người vừa khuất.

Theo công việc đòi hỏi, mái ấm gia đình của tôi lúc này là các tiền đồn khắp vùng cao nguyên từ Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Pleiku, Kontum tới duyên hải Trung Phần, nhưng lại đưa tôi về gần sinh hoạt văn, thơ và gần Sài Gòn hơn bao giờ.
Bởi ngay tại Pleiku, tôi luôn có ở bên cạnh các bạn thơ Diên Nghị, Tô Mặc Giang, Anh Hoa, Kim Tuấn… và tại Đà Lạt là những Hoàng Anh Tuấn, Châu Trị, Châu Liêm…
Đồng thời, tôi có thể về Sài Gòn bất kỳ lúc nào vì đã có tấm thẻ của Bộ Tổng Tham Mưu dành cho quyền ưu tiên dùng máy bay quân sự. Tấm thẻ còn ghi rõ tôi được phép mặc đồng phục của mọi binh chủng nên tôi đã gạt hết nghi ngại từng có trước các vụ chặn xét giấy tờ của cảnh sát hoặc quân cảnh.

Nhờ vậy, một buổi chiều cuối năm 1965, tôi có dịp về Sài Gòn, ghé chùa Giác Minh gặp thượng tọa Thích Đức Nhuận. Thượng tọa Đức Nhuận luôn lưu tâm đến sinh hoạt văn thơ nên vừa thấy tôi liền báo tin đã tìm lại được bản nháp tập nhận định Thơ Việt Hiện Đại 1900 – 1960 in ronéo mà tôi trao cho thượng tọa năm 1960. Thượng tọa nói chỉ cần sửa vài đoạn viết theo cách nói thông thường cùng các chữ sai chính tả là đã có một tác phẩm.

Do biết tôi bận việc ở xa nên thượng tọa bảo sẽ tìm người lo và cho ấn hành để giữ lại một tài liệu về sinh hoạt thi ca Việt Nam.

Buổi gặp gỡ không chỉ cho tôi niềm vui thấy một chút hình ảnh cũ đã hoàn toàn mất dấu mà còn tạo cho tôi một kỷ niệm khó quên. Đó là thượng tọa Đức Nhuận tháo chiếc đồng hồ tay trao cho tôi, nhắc phải đeo để biết giờ giấc, tránh sinh hoạt thất thường gây tổn hại sức khỏe.

Nhưng chiếc đồng hồ chỉ nằm trên tay tôi không tới 20 tiếng đồng hồ.

Vì ngay đêm đó tôi có mặt tại Pleiku và 3 giờ sáng hôm sau phải theo một đơn vị hành quân. Đơn vị tôi theo đụng trận lúc 9 giờ sáng. Trận đánh kéo dài tới gần 11 giờ.

Khi đơn vị lo kiểm tra tổn thất, băng bó thương tích, tôi phát hiện chiếc đồng hồ không còn trên tay tôi nữa. Nó đã biến đi ra sao, vì một mảnh pháo, một viên đạn xớt qua hay một va chạm gì đó, vào lúc nào và ở đâu tôi không hay.

Nhìn mấy bó poncho đặt bên nhóm binh sĩ đang chờ tải thương với các mảnh băng nhem nhuốc máu còn đỏ tươi, tôi bỗng tự hỏi phải chăng chiếc đồng hồ đến với tôi chỉ để hoàn tất vai trò che chở cho tôi qua khỏi trận đánh?
Câu hỏi hoàn toàn vô căn cứ này tới nay vẫn chưa chịu rời đầu óc tôi…

Virginia, December 18, 2019.

UYÊN THAO

THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI 1900-1960 (II)

Quanh bản nháp phác thảo
THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI 1900-1960
HỒI TƯỞNG VÀ ƯỚC MƠ .
( II )

Uyên Thao, 1970

Uyên Thao
Giữa năm 1966, khi cuộc hành quân Thần Phong giải tỏa Bồng Sơn – Tam Quan vừa chấm dứt, tôi lại đột ngột nhận lệnh gọi tức khắc về Sài Gòn.
Nhưng tôi về Sài Gòn chỉ để nhận lệnh phải có mặt tại Đà Nẵng ngay hôm sau với nhiệm vụ dựng một đài phát thanh trong Không Đoàn 41 thay cho đài Đà Nẵng vừa bị phe chống đối chiếm giữ.
Mấy tháng sau, cuộc nổi loạn của Vùng I còn khiến tôi phải dựng tiếp bên bờ sông Hương một đài phát thanh tại Phu Văn Lâu thay cho đài Huế và giữ chân tôi tại Huế tới cuối năm 1966.
Vòng vây thời thế xóa tan mọi hình ảnh thơ văn và tôi cũng quên hẳn việc thượng tọa Đức Nhuận tìm lại được bản nháp tập sách bị mất, kể cả khi tôi đã về lại đài Sài Gòn với vai trò mới là trưởng phòng Kiến Thức.
Việc chữ nghĩa duy nhất mà tôi làm được chỉ là cùng Trần Phong Vũ hoàn tất tập sách Chủ Nghĩa
Anh Hùng Cách Mạng Cộng Sản do thôi thúc của công việc hàng ngày — khởi từ sự kiện Hà Nội dựng tượng đài “liệt sĩ Nguyễn Văn Bé ôm bom phá nổ xe bọc sắt Mỹ, anh dũng hy sinh vì yêu nước” để cổ võ
tinh thần “chống xâm lược Mỹ” và guồng máy tuyên truyền Cộng Sản liên tục loan tin “Hồ chủ tịch sẽ đích thân khánh thành tượng đài.”
Với các chứng cớ nắm trong tay, chương trình của phòng Kiến Thức liên tục diễn lại thực tế phía sau câu chuyện, đồng thời gom nhiều tài liệu về các mẫu anh hùng tương tự đã và đang được sách báo cộng sản từ Nga Xô qua Đông Âu tới Trung Quốc ca ngợi.
Bởi trên thực tế, Nguyễn Văn Bé quê ở Bến Tre là một thiếu niên 17 tuổi bị buộc phải gia nhập du kích, đã bỏ trốn, xin về hồi chánh và đang có mặt tại Sài Gòn. Sự xuất hiện của Nguyễn Văn Bé bằng xương bằng thịt trước báo giới quốc tế cùng các chương trình phát thanh từ đài Sài Gòn đã chặt đứt dòng thác ồn ào suy tôn “liệt sĩ Nguyễn Văn Bé” và cái tượng đài đang xây ở Hà Nội để “Hồ chủ tịch đích thân khánh thành” cũng rơi vào lặng lẽ.
Gần bốn mươi năm sau, khi tôi đặt chân tới Mỹ, một nhân vật liên hệ trực tiếp vụ này là Đoàn Lương Đống tìm gặp tôi, nhắc chuyện xưa đã tỏ ý tiếc là tôi quá sơ sót. Theo Đoàn Lương Đống, lẽ ra tôi nên chờ Hồ Chí Minh khánh thành xong tượng đài hãy lên tiếng. Đoàn Lương Đống hoàn toàn hữu lý nhưng việc đã qua hẳn từ lâu rồi.

Điều đáng tiếc với tôi chỉ là cuốn sách mà Trần Phong Vũ và tôi mất nhiều ngày tháng sưu tầm tài liệu không những không được gửi tới người đọc mà còn mất hết dấu vết dù đã in xong. Cuốn sách in xong đầu năm 1968, nhà in chở đến, chất đống tại phòng Kiến Thức và mười ngày sau biến hết thành tro khi Cộng quân chiếm đài Sài Gòn vào giờ khởi đầu trận đánh Tết Mậu Thân 1968.
Vụ này xảy ra chỉ một tuần sau khi tôi được anh Vũ Đức Vinh gật đầu cho rời Cục Vô Tuyến.
Việc tôi xin nghỉ chỉ riêng anh Vinh biết nên sau đó tôi vẫn có mặt tại đài Sài Gòn do anh Vinh yêu cầu ráng lo tiếp công việc trong khi chờ anh tìm người thay, vì trận đánh Mậu Thân đang kéo dài.
Lý do tôi xin nghỉ việc chỉ đơn giản là tôi đã thực sự trở lại là tôi, tức chấm dứt hẳn việc dùng giấy tờ giả.
Bởi tháng 1-1967 tôi lập gia đình và tháng 11-1967 là thời gian chờ đón đứa con đầu lòng.
Vì vậy, anh Nguyễn Văn Lưu, bạn các anh tôi từ gần 30 năm trước ở Hà Nội nên tôi vẫn coi như anh mình, đã nhắc tôi phải lấy lại tên gọi do cha mẹ đặt. Hôm đó, anh chỉ tấm huân chương Chương Mỹ Bội Tinh mà tổng thống Thiệu trao tặng sau thời gian tôi có mặt tại Đà Nẵng – Huế năm 1966 và hỏin
“Bộ em tiếc cái này lắm sao?”
Tôi cho biết không tiếc điều gì mà chỉ không biết cách nào xin cấp thẻ căn cước.
Anh bảo tôi lục lại giấy tờ cũ thuở ở Hà Nội coi còn bất cứ thứ gì từ khai sinh, căn cước đến thẻ học sinh hoặc một giấy tờ gì đó đưa cho anh là xong.
Tôi về nhà Nguyễn Sỹ Hưng lục lại đống giấy tờ cũ, tìm được tờ khai sinh, đem trao cho anh Lưu đúng ngày tôi đưa vợ vào nhà hộ sinh.
Một tuần sau, anh Lưu dắt tôi đến Ty Cảnh Sát Gia Định.
Tại đây, qua một buổi sáng tới 12 giờ trưa tôi đã có tấm thẻ căn cước thực sự.
Tôi không hiểu anh Lưu gặp ai, làm gì nhưng trước mắt hiện ra hai việc buộc tôi phải giải quyết là tờ khai sinh đứa con vẫn ghi tên cha là cái tên giả tôi đang mang và sự tồn tại cái tên giả đó.
Sau khi cân nhắc, tôi thấy tờ khai sinh của con tôi có thể gác lại, nhưng cái tên giả của tôi chỉ có thể xóa bằng cách tôi rời đài Sài Gòn. Do đó vào tuần lễ cuối cùng trước Tết Mậu Thân, tôi đã gặp riêng anh Vũ Đức Vinh, đưa cho anh coi tờ căn cước tôi vừa có để xin anh cho tôi nghỉ việc.
Tôi thực sự rời đài Sài Gòn giữa năm 1968 để trở lại là chính mình với hai bàn tay trắng.
Trong khi đó, báo chí là nghề duy nhất mà tôi có thể tham gia luôn đối đầu với tai họa. Chỉ khoảng hơn mười tháng sau đó, tôi phải qua bốn tờ báo do nối nhau bị đóng cửa hoặc thua lỗ.
Mãi tới mùa hè 1969 nhận được việc điều hành tòa soạn tuần báo Diễn Đàn, tôi mới gặp lại không khí sinh hoạt ổn định. Bởi tờ báo là tiếng nói của Phong Trào Liên Minh Thế Giới Chống Cộng nên không sợ bị bất ngờ đóng cửa và đã sẵn sàng chấp nhận thua lỗ.
Chính tại tòa soạn tuần báo Diễn Đàn, một ngày Trần Tuấn Kiệt tới gặp tôi.
Trần Tuấn Kiệt là nhà thơ trẻ từng gặp tôi từ nhiều năm trước và có nhiều sáng tác đáng kể.
Anh cho biết thượng tọa Đức Nhuận vừa trao cho anh tập Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 để lo ấn hành nên anh cần tôi viết thêm phần phụ lục về sinh hoạt thi ca nối sau năm 1960.
Lúc đó đã qua gần 10 năm tôi không có điều kiện theo dõi sát sinh hoạt thi ca. Tuy vậy, tôi rất vui viết ít trang phụ lục cho tập sách và chọn thêm một số bài thơ, trong đó có các bài tôi hết sức ưng ý của
Nguyễn Bắc Sơn, Lê Thị Tư, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Thị Tường Hoa, Trần Đức Uyển, Nhã Ca…
Kỳ lạ là ngay sau khi gặp Trần Tuấn Kiệt, không khí ổn định mà tôi vừa có lại đảo lộn.
Một buổi sáng, anh Mặc Đỗ cho tôi biết anh quyết định rời tờ báo vì không thể chiều ý “một chủ nhiệm chỉ là công chức không biết gì về báo chí lại cứ muốn tờ báo phải theo ý mình.”
Trên thực tế, Mặc Đỗ với vai trò chủ bút chỉ lo phần biểu hiện lập trường tờ báo còn việc chọn lựa bài vở, sắp đặt nội dung, hình thức là việc của tôi.
Do đó, tôi thấy chính tôi sẽ khó thể ngồi lại nên nói ngay
“nếu anh ra đi, tôi cùng toàn bộ biên tập cũng ra đi.”
Sự việc xảy ra chớp nhoáng và tôi lại mất kế mưu sinh.
Cái tin vui về việc sắp có một tác phẩm ấn hành vì thế vụt biến, dù chỉ hai tuần sau, anh Chu Tử đã tìm gặp tôi, đề nghị về giúp anh lo tờ tuần báo Đời mà anh nói thẳng là “đang lỗ nặng.”
Khi tờ Đời chuẩn bị ra mắt, Chu Tử đã đề nghị tôi phụ trách tòa soạn, nhưng tôi nói thực là giữa tôi và anh có một khác biệt về quan niệm báo chí nên tôi khó thể nhận. Tôi nêu rõ anh là cây bút dọc ngang tùy hứng, nay hoan hô, mai đả đảo thoải mái đến mức có thể hiểu nghề báo hoàn toàn đúng như lời anh
Vũ Bằng là “nói láo ăn tiền.” Lúc đó, anh giải thích anh vốn là nhà giáo chỉ vì cộng tác với giáo hội Cao Đài làm hiệu trưởng trường Lê Văn Trung Nghĩa Thục mà bị chụp mũ “ăn cắp xe hơi” đưa ra tòa xử án tù, tội trạng còn ghi trên lý lịch thì đâu cần nghiêm túc với ai. Tất nhiên tôi không đồng ý vì không thể viện
cớ bản thân bị bức hiếp, lăng nhục để thản nhiên đổi trắng thành đen.
Lần này, Chu Tử nói ngay nếu tôi đồng ý về lo tờ báo thì tôi có thể vứt bỏ bài viết của bất kỳ ai, kể cả bài của chính anh ấy khi tôi thấy cần vứt bỏ. Vậy là tôi thoát cảnh thất nghiệp nhưng trước mắt lại sừng sững ngọn đèo “tờ báo đang lỗ nặng.” Việc không dễ chút nào đã vây hãm tôi nhiều ngày.
Rồi tờ báo cũng đứng vững nhưng đó lại là lúc tôi nhận được cái lệnh mà 17 năm trước tôi đã nhận để phải xa mái trường, rời Hà Nội: Lệnh gọi nhập ngũ!
17 năm trước, năm 1953, dù đã tới Sài Gòn, tôi vẫn không chọn quân trường mà chọn núi Bà Đen, vì tự thấy không chịu nổi cảnh đứng nghiêm nghe lệnh các sĩ quan Pháp, tương tự năm 1949 tôi phải bỏ vùng kháng chiến trốn về Hà Nội chỉ vì luôn muốn nổi điên trước đòi hỏi thần thánh hóa các hành động phi nhân man rợ.

Để được là chính mình, tôi đã phải đổi tên che mặt tới cuối năm 1967 mới có tấm thẻ căn cước. Và vì thế, cuối năm 1970, lệnh nhập ngũ lại tái hiện.
Dù đã vượt xa tuổi 20, lần này tôi trình diện.
Khoác bộ quân phục, ôm lại cây súng đã rời xa từ cuối năm 1955, tôi thấy mình như chiếc lá lìa cành mặc cho gió cuốn trôi. Một buổi sáng, khi đang tập bắn tại xạ trường, bỗng có lệnh gọi tôi về trại ngay.
Rồi tôi được lệnh trả quân phục, súng đạn… và qua trình diện văn phòng bộ chỉ huy.
Tại đây, một sĩ quan cho biết tôi được rời quân trường theo yêu cầu của Cố Vấn Đặc Biệt Phủ Tổng Thống và rời trại ngay, dù tôi chưa qua hết 12 tuần lễ khởi đầu cuộc sống quân ngũ.
Tôi như mơ ngủ dù đã biết ngay việc do ai. Người đó ở lớp tuổi cha chú nhưng từ lần gặp đầu tiên đã nhắc tôi “bỏ ngay mấy tiếng chú, bác đi. Chỉ anh, em thôi!”
Đó là anh Trần Văn Ân tức ký giả Văn Lang!
Năm 1953, khi tôi tới Sài Gòn, anh Ân đang chủ trương tuần báo Đời Mới.

Tôi từng gửi bài cho báo này nên tìm tới gặp anh. Tôi nói thực là bị gọi vào Thủ Đức khóa 1953 kép, nhưng tự thấy không chịu nổi
cảnh phải đứng nghiêm nhận lệnh các sĩ quan Pháp nên tôi không trình diện và đang tìm đường lên núi Bà Đen. Anh im lặng nhưng lo ngay cho tôi chỗ tạm trú, rồi kiếm người dắt tôi đi theo con đường đã chọn.
Đầu năm 1955, tôi từ Bà Đen về Sài Gòn trong đoàn quân ủng hộ thủ tướng Ngô Đình Diệm chống Pháp, chống Cộng Sản, nhưng chưa có cơ hội gặp lại anh thì anh cùng anh Hồ Hữu Tường lãnh án tử hình rồi bị đưa đi đày tại Côn Đảo.
Giữa năm 1964, khi chúng tôi đang làm tờ Tin Sáng, anh trở lại Sài Gòn.
Dù bị chế độ cũ kết án tử hình và vừa thoát cảnh đọa đày, anh vẫn lên tiếng cùng chúng tôi phản đối bản án tử hình Ngô Đình Cẩn. Thuở đó, tôi chưa hết lênh đênh nên ít gặp anh.
Cuối năm 1967, tôi vừa có tấm thẻ căn cước thì anh là tổng trưởng bộ Thông Tin của nền đệ nhị Cộng Hòa. Lúc đó tôi chưa thể rời hẳn đài Sài Gòn nên chỉ có mặt tại nhà anh hàng đêm để lo bất kỳ việc nào
anh cần, nếu có thể lo.
Tôi thực sự được kề cận bên anh sau 14 năm quen biết, nhưng thời gian này chỉ không đầy sáu tháng.
Giữa năm 1968, anh rời bộ Thông Tin, trở thành Cố Vấn Đặc Biệt của tổng thống Thiệu, còn tôi thực
sự rời đài Sài Gòn với hai bàn tay trắng và vừa kiếm được chỗ ngồi tại tuần báo Đời ít tháng thì nhận lệnh gọi nhập ngũ cuối năm 1970.
Từ trung tâm Quang Trung trở về, tôi tới gặp anh để nghe anh trách:
“Sao không cho anh biết ngay chuyện em bị gọi nhập ngũ?”
Lời trách nhắc tôi nhớ lại những đêm khuya ngồi bên anh khoảng hai năm
trước. Thuở đó, anh gần như liên tục dặn dò “đừng quên chuyện nước non” và lúc này tôi thấy mấy tiếng “chuyện nước non” bao gồm cả tấm lòng bao la của anh dành cho tha nhân.
Không lâu sau, tôi còn nhận được từ nơi anh Trần Văn Ân tấm Thẻ Hoãn Dịch của Nha Động Viên với lý do “chuyên viên bất khả thay thế ” theo thời hạn “tới khi có lệnh mới.”
Một phép lạ nữa lại hiện ra để giúp tôi rời xa hẳn cây súng vào đầu năm 1971.
Hơn 30 năm sau nữa khi tôi đã tới Mỹ, năm 2002, ba chữ “chuyện nước non” lại hiện ra trước mắt tôi với nguyên văn như sau:
“Anh chỉ còn ngồi được với mấy lời kinh Phật nên nhắc em phải ráng góp phần
lo chuyện nước non.”
Đây là dòng chữ cuối cùng anh Trần Văn Ân từ Pháp gửi cho tôi chỉ 3 tháng trước
ngày anh vĩnh viễn ra đi khi tròn 101 tuổi.
Thật buồn là lúc nhận lá thư của anh cũng là lúc tôi đang mang căn bệnh ung thư đã tới hồi báo động và còn thua anh là chỉ biết thở dài chứ không biết nhắc với ai về nỗi lòng của những người đi trước cũng như của chính mình.

Tại tuần báo Đời đầu năm 1971, tôi gặp lại nụ cười của anh Chu Tử. Anh không chỉ vui đón tôi trở về mà còn trả trọn số lương hơn 2 tháng tôi vắng mặt, rồi nhắc tôi lo ngay các việc dở dang và trao cho tôi một đống thư dày cộm. Những lá thư từ khắp các miền đất nước đều nhắc về điều mà Phạm Văn Lương từng nhắc tôi là “không thể bỏ qua cái chết của Hà Thúc Nhơn.”
Đòi hỏi này khiến tôi không còn thời giờ lo việc gì khác, kể cả mở cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900 – 1960 mà Trần Tuấn Kiệt đã in xong, đem tới trước ngày tôi nhập ngũ. Lúc đó, tôi chỉ kịp nhìn qua tấm bìa với hình vẽ con hạc trắng bay giữa trời đêm của Nguyên Khai.
Mãi cuối năm 1971, tôi mới tạm vượt các trở ngại để có tờ nhật báo Sóng Thần.
Nhưng tờ báo vừa chào đời thì trận mùa hè 1972 bùng nổ do Hà Nội đưa quân vượt sông Bến Hải.
Báo hiệu một đổi thay đã ló hình trên bàn cờ quốc tế mà vận mạng miền Nam chỉ còn tùy thuộc nơi ý chí và tinh thần của hết thẩy mọi người dân.
Cùng với báo hiệu trên là cảnh đạn bom tàn phá gieo rắc chết chóc, tan hoang. Sóng Thần là tờ báo có đại diện khắp các thị trấn miền Nam nên từng ngày, từng giờ liên tục chìm trong cơn bão tin tức về những cái chết oan ức, những dòng nước mắt chan hòa, những tiếng than nghẹn ngào phẫn uất… từ vô số kể nạn nhân bỗng dưng bị đẩy khỏi mái ấm gia đình để vơ vất dưới nắng mưa nơi đầu đường xó chợ, hoặc biến thành các thân xác bị đạn bom xuyên phá ngổn ngang trên đồng hoang, bãi vắng bỏ mặc cho chồn cáo, chuột bọ cào xé…
Thực tế đặt tờ báo vào thế không thể giữ vai trò thông tin thuần túy mà cần góp phần chia gánh oan khiên đè nặng thân phận người dân do tham vọng độc quyền thống trị của chế độ Hà Nội.
Vì thế, tờ báo phát động chiến dịch “Sống, mái nhà – thác, nấm mồ” từ tháng 7-1972, kêu gọi mọi người tiếp tay giúp đỡ các nạn nhân xấu số đang phải sống bên bờ đường, góc phố có được một mái tranh che đỡ, đồng thời kiếm cho hàng ngàn thân xác còn bị bỏ ngổn ngang dưới nắng mưa sớm có một nấm
mồ. Việc làm này là bổn phận cần hoàn tất để gióng lên tiếng gào tố giác cùng công luận năm châu về tội ác sát nhân man rợ đang diễn ra tại Việt Nam và cũng là lời khẩn báo cùng hai mươi triệu người miền Nam về nguy cơ cướp đoạt sự sống đang hiển hiện.
Tất nhiên, hình ảnh bi thương của các nạn nhân bị cướp đoạt gia cư, tài sản luôn ngơ ngác thất thần ở khắp nơi đã liên tục xuất hiện trên tờ báo, nhất là hình ảnh nhiều ngàn nạn nhân bị thảm sát trên đoạn đường từ Hải Lăng về Mỹ Chánh với cái tên Đại Lộ Kinh Hoàng do tờ báo phổ biến đã được lập lại gần như hàng ngày trên khắp thế giới.
Từ đây, tờ báo liên tục nhận đủ loại tai họa mà qua đó, bản thân tôi đã thành kẻ tử thù cần hủy diệt.
Cuối năm 1973, khi chiến dịch lượm xác người trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã chấm dứt với gần 2000 ngôi mộ ở phía ngoài cầu Mỹ Chánh, tôi bất ngờ nhận một tin vui ngoài tưởng tượng. Vốn là cựu tù nhân trại tù Lý Bá Sơ trước 1954, Nguyễn Sỹ Hưng, người bạn đã dành cho tôi gian phòng nhỏ tại nhà anh
nhiều năm trước, báo tin vui cho tôi với giọng đầy lo lắng và dặn dò đủ thứ. Đang là một viên chức Bộ Chiêu Hồi, Nguyễn Sỹ Hưng cho biết vừa thu nhận 5 đặc công Cộng Sản về hồi chánh. Các hồi chánh viên này cho biết họ thuộc một tổ đặc công được cử về Sài Gòn với nhiệm vụ ám sát tôi và nữ nghệ sĩ
Bạch Tuyết đang chia xẻ công việc của tờ Sóng Thần. Điều cực may là sau hơn hai tuần có mặt tại Sài Gòn để chuẩn bị kế hoạch, cả 5 đặc công lại thấy không thể thi hành lệnh.
Vì thực tế trước mắt họ diễn ra khác hẳn điều họ từng nghĩ, trong khi đọc tờ Sóng Thần suốt thời gian đó, cả 5 đều thấy tờ báo không làm gì trái với ý nghĩ của chính họ.
Cuối cùng, cả 5 đồng ý tự nguyện hồi chánh là việc dễ dàng và an toàn nhất cho họ.
Ngay từ tuổi thiếu niên, tôi từng biết không ít vụ thủ tiêu, ám sát người khác chính kiến của đảng Cộng Sản. Đây là điều đã thúc đẩy tôi rời vùng kháng chiến năm 1949. Tôi chỉ biết nhờ Nguyễn Sỹ Hưng chuyển lời cảm ơn tới 5 đặc công và nhắc họ yên tâm vì những ngày tới sẽ là thời gian bình an với họ.
Đồng thời tôi nhớ ngay về ngày 30-12-1965, ký giả Từ Chung của báo Chính Luận bị bắn chết và người đang ở bên tôi lúc đó là Chu Tử vẫn còn mang dấu tích vụ ám sát ngày 16-4-1966. Dù trúng nhiều phát đạn, Chu Tử đã thoát chết nhưng gần như trở thành một bệnh nhân Parkinson với hai bàn tay luôn lay động liên tục khiến việc viết lách vô cùng khó khăn. Tôi cũng nhớ lại trường hợp nhà văn Nhượng Tống
nổi danh từ khi tôi chưa ra đời và là người mà tôi luôn ngưỡng mộ về tinh thần chống Pháp.
Mùa hè 1949, tôi mới có mặt trở lại tại Hà Nội ít lâu thì nghe tin Nhượng Tống bị đặc công Cộng Sản bắn chết.
Tôi nghĩ nếu tôi phải nhận hồi kết tương tự trường hợp Nhượng Tống, Từ Chung hay Chu Tử cũng chẳng có gì ngạc nhiên.
Tuy nhiên, tôi không thể ngừng ngạc nhiên trước các tai họa mà Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa liên tục gây ra cho tờ báo từ ngày ra mắt cuối năm 1971 tới ngày bị thu hồi giấy phép đầu năm 1975.
Sóng Thần có mặt được 3 năm ấn hành hơn 1000 số, nhưng chỉ bán được khoảng 900 số, vì đã phải ra tòa hơn 100 lần và còn gần 100 vụ bị tịch thu đang chờ ra tòa. Nhìn chung, tờ báo mỗi năm bị tịch thu khoảng 60 số tức cộng chung chỉ phát hành được 30 tháng còn 6 tháng biến thành tro.
Lý do tịch thu báo luôn như trò hài hước. Chẳng hạn số báo bị kết tội “gây hoang mang dư luận ” vì loan tin Cộng Sản pháo kích thị xã Cam Ranh sát hại 8 thường dân vô tội. Số báo khác bị kết tội “cố tình hạ thấp uy tín quân đội” vì loan tin một buôn Thượng bị Cộng quân dùng súng phóng hỏa thiêu hủy hết nhà cửa, tàn sát hơn 200 dân làng gồm đa số là đàn bà, trẻ nít.
Số báo khác nữa bị kết tội “đăng tin thất thiệt, xuyên tạc sự thực” vì loan tin “Sư Đoàn Sao Vàng của Bắc Việt về hàng tập thể” trong khi “trên thực tế chỉ có những toán 5 người, 10 người về hàng chứ toàn bộ Sư Đoàn này không về hàng!”
Tôi không thể nén được mối ngờ vực Bộ Thông Tin đang tìm cách che đỡ cho Cộng Sản, nhất là khi hội nghị Paris có mặt của đại diện Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Vai trò của tổ chức này là gì mọi người đều đã hiểu nên Chóe có bức biếm họa vẽ Nguyễn Thị Bình ngồi dạng hai chân cho 2 lãnh tụ Brejnev – Mao Trạch Đông chui vào và một bức khác vẽ cặp Kissinger – Lê Đức Thọ hỉ hả đắp chăn
chung. Cả 2 số báo in các bức biếm họa đó đều bị tịch thu với tội danh “khiêu dâm, vi phạm điều 35 luật báo chí !”
Tờ Sóng Thần phải viết thư ngỏ đặt vấn đề với Tổng Thống và Quốc Hội về cách làm việc của Bộ Thông Tin nhưng không nhận được hồi đáp nào. Sau khi bộ Thông Tin cải danh thành bộ Dân Vận Chiêu
Hồi, mức ngạo ngược còn trắng trợn hơn.
Cụ thể là bức họa ở mục Hí Độc Diễn bị kết tội “mạ lỵ tổng thống” vì có 3 cảnh:
– Cảnh 1, Hí dắt một con chó đi chơi.
– Cảnh 2, Hí đi giữa ba, bốn con chó.
– Cảnh 3, một bầy chó lúc nhúc che kín Hí.
Bức họa diễn tả mức nguy hại khi tệ nạn tham nhũng lan tràn nhưng theo bộ Dân Vận Chiêu Hồi, bức họa có tên Hí Độc Diễn ám chỉ cảnh độc diễn của liên danh Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc bầu cử 1971 nên rõ ràng nhắm bôi bác tổng thống. Báo Sóng Thần lập tức bị đưa ra tòa ngày 31-10-1974 về tội danh trên, sau khi tái phạm do số báo ngày 21-9-1974 đăng lại nguyên văn bản cáo trạng tố tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh.
Chuyện không dừng tại đây. Ngay khi Sóng Thần từ chối tuân lệnh cấm đăng bản cáo trạng tố tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh đã có tin cho biết Bộ Dân Vận Chiêu Hồi vừa bỏ nửa triệu đồng đãi ăn một nhóm côn đồ chuyên giết mướn để thuê chúng hạ sát tôi.
Sau khi kiểm chứng nguồn tin, Sóng Thần số 983 ngày 25-9-1974 đã đăng bài viết của ký giả Lê Thiệp báo nguy với vài đoạn sau:
“Hơi thở của Sóng Thần và mạng sống của tổng thư ký Uyên Thao đang như chỉ mành treo chuông…
Nhiều nguồn tin cho biết tổng thư ký Uyên Thao có thể bị cướp tính mạng vì trò bắn lén hoặc ít nhất cũng bị chụp mũ… thành một đặc công Cộng Sản, một tên ăn cắp, một tên ăn cướp, một tên lừa bịp…
Công khai nói lên sự kiện này, chúng tôi muốn nói chính quyền sẽ gánh trọn mọi trách nhiệm trong trường hợp Sóng Thần tắt tiếng và ký giả Uyên Thao bị cướp mạng sống hay bị cướp quyền hành nghề bằng những trò xảo trá.
Với bạn đọc và anh em khắp nước, chúng tôi xin nhắc lại: Chúng tôi sẵn sàng vào tù, sẵn sàng xếp hàng chịu xử bắn thay vì bẻ cong ngòi bút, phản bội sự thật để chìu lòn quyền thế.”
Suốt một tháng sau khi đăng bài báo trên, tờ báo liên tục bị tịch thu tới mức phải tự đình bản vì hết vốn. Và trong lúc đang quay cuồng kiếm tiền tái bản tờ báo thì một buổi tối, tôi bị công an chặn bắt ngay tại Ngã Sáu Sài Gòn, đưa về Tổng Nha Cảnh Sát. Tại đây, một đại úy gần như năn nỉ tôi ký tên vào bản tự thú đã viết sẵn “nhận tội ăn cắp xe hơi” thay vì sẽ phải ký vào bản tự thú khác cũng đã viết sẵn nhận tội
làm “đặc công trí vận cộng sản.”
Vị đại úy cho biết anh chỉ làm theo lệnh thượng cấp và nghĩ tôi ký rồi bỏ
đó thôi, vì “ai cũng biết là không đúng sự thật.”
Tôi không thể ký bất kỳ bản tự thú nào như vậy nên vị đại úy không thể trả tự do ngay cho tôi.
Tuy nhiên tin tôi bị bắt đã lập tức loan truyền và lý do nêu ra không thuyết phục nổi dư luận, nhất là có một số dân biểu Quốc Hội công khai bày tỏ thái độ bất bình với sự việc. Do đó ít ngày sau tôi được thả ra để về với tờ báo. Nhưng tờ báo sống lại chưa qua một tháng thì nhận quyết định hành chính thu hồi giấy phép xuất bản.
Nối tiếp quyết định này là một loạt nhân viên tòa báo bị đẩy vào tù như Chóe, Hải Triều, Trương Cam Vĩnh.
Riêng tôi lại phải rời xa vợ con để tối nay ở nhà này, ngày mai ở nhà khác rồi trở lại
mấy mái chùa vẫn che chở tôi thuở xưa cho tới ngày 29-4-1975.
Sáng 29-4-1975 là buổi sáng đầu tiên sau nhiều ngày, tôi cảm thấy an lành nên điện thoại cho Nguyễn Văn Hảo để hỏi về tình hình. Nguyễn Văn Hảo lúc đó đang là phó thủ tướng đặc trách Kinh Tế nên cho tôi biết anh vừa ra lệnh giữ lại 16 tấn vàng mà tổng thống Thiệu muốn mang theo, nhưng lại nói thẳng với tôi như sau:
“Moa đang cố gắng trở thành người cộng sản.”
Tôi cúp điện thoại vì hết muốn nghe thêm điều gì.
Khoảng 3 tháng sau, tại Ngã Tư Xa Lộ, khi tôi vừa ra khỏi tiệm hớt tóc thì một người chặn tôi lại hỏi:
“Có phải Uyên Thao không?” Ngạc nhiên vì người hỏi hoàn toàn xa lạ, nhưng tôi vẫn gật đầu.
Anh ta lập tức rút khẩu súng trong người chĩa vào sườn tôi, ra lệnh:
– Theo tôi! Có lệnh của an ninh K.9, bắt anh!
Từ đó tôi lại quay về với các bức vách nhà tù quen thuộc dù chẳng bao giờ biết K.9 là cơ quan nào và cũng chẳng bao giờ biết lệnh bắt mình nêu tội danh gì.
Mãi 11 năm sau, cuối năm 1986 tôi mới có tờ Giấy Ra Trại để rời trại tù Z.30A trên đó ghi tội danh chỉ bằng hai chữ “phản quốc.”
Trên thực tế, tôi chỉ được rời trại Z.30A chứ chưa dứt kiếp tù.
Vì theo lệnh Bộ Nội Vụ, tôi vẫn bị quản chế bằng cách cô lập tại quận 3 Sài Gòn và chỉ được gặp vợ con khi công an cho phép.
Cảnh sống lúc này của tôi chỉ khác lúc ở trại tù Z.30A là phải tự kiếm ăn và nguồn sống của tôi là các bãi rác ở khu Gò Vấp.
Cuối năm 1988, tôi bỗng bị trục xuất khỏi chùa Pháp Hoa là nơi chỉ định cư trú từ khi rời trại tù Z.30A. Một công an tới báo quyết định này và buộc tôi rời chùa Pháp Hoa trong thời hạn 48 giờ.
Tôi phải tới Công An Thành Phố báo sự việc và được lệnh cho về với gia đình tại quận Bình Thạnh, kèm lời nhắc
“chưa có quyền công dân nên mọi sinh hoạt phải theo lệnh công an khu vực.”
Dù vậy tôi bắt đầu có mặt bên vợ con, và may mắn hơn, một bạn trẻ vốn là Phật tử chùa Giác Minh quen tôi thuở ở tù cuối năm 1963 bất ngờ gặp lại, đã thu xếp cho tôi một sạp bán sách báo bên lề đường khu Cầu Bông sát trường nữ trung học Lê Văn Duyệt cũ để xa rời các bãi rác. Tuy vậy, cuộc sống “mất quyền công dân” vẫn đặt tôi vào cảnh đối mặt đủ loại tai ương, nhất là hàng ngày phải chứng kiến sự túng đói của vợ con, trong khi ba đứa con vừa hơn mười tuổi đều bị chụp cái mũ “phản quốc” của cha, mới qua khỏi bậc tiểu học đã phải rời trường và luôn bị tẩy chay, miệt thị.
Sinh hoạt chữ nghĩa dù sôi sục trong đầu nhưng vô phương thực hiện và tôi gần như quên hẳn những gì đã làm trong quá khứ.
Hơn 10 năm sau, cuối năm 1999 đặt chân tới Mỹ, mức sôi sục về sinh hoạt chữ nghĩa bùng lên như đám cháy thì tôi lại thấy mình đã đối mặt với tuổi xấp xỉ bảy mươi. Không thể chối bỏ giới hạn của năng lực bản thân và thời gian còn lại ngắn ngủi, tôi chỉ dám nghĩ đến sự tìm cách phổ biến các tiếng nói đang bị vùi dập tại quê nhà. Ý nghĩ của tôi lúc đó là tôi đã may mắn hơn rất nhiều người.
Vì bỏ qua hơn mười năm trong tù, tôi đã có mười bốn năm từ 1986 đến 1999 sống kiếp “không phải con người” để nghe được tiếng nói từ đáy tim của nhiều người “chính thực là người.”
Những người này đều xa lạ nhưng do cơ duyên nào đó đã biết đến tôi và tìm cách gặp gỡ chỉ trong phút giây để giúp đỡ tôi hoặc chỉ để nói vài lời từ lâu họ phải đè nén đến độ biến thành nỗi đau luôn dằng xé tâm tư.
Chẳng hạn một người thường ghé mua sách báo, đôi lúc dừng lại hỏi tôi vài chuyện vu vơ.
Một hôm anh bỗng đưa cho tôi tập Tôn Tử Binh Thư in ở Hong Kong, đề nghị tôi chuyển qua tiếng Việt. Anh tiết lộ anh là một thiếu tá bộ đội giải ngũ và đoán biết về cuộc đời tôi nên muốn giúp tôi có một khoản tiền, đồng thời để người đọc “có một cuốn sách đáng đọc thay cho các cuốn sách tệ hại” mà tôi đang bán.
Anh bảo tôi chỉ cần dịch cuốn sách thôi, còn mọi việc khác, khỏi cần biết.

Mấy tháng sau anh đề nghị tôi lo một việc nữa là tìm cách nào có bộ sách biến thành phim đang thu hút mọi người là bộ hồi ký Little House On The Prairie của Laura Ingalls Wilder để dịch.
Qua sắp đặt của anh, tôi gửi được thư cho Hoàng Hải Thủy đang ở Mỹ nhờ mua bộ sách và gửi được về cho tôi.
Anh chính là đầu cầu đưa đến cho tôi một số gặp gỡ mà tôi thấy tất cả đều không khác một đại tá đang là cấp chỉ huy quan trọng ngay tại quân khu Sài Gòn thuở đó. Mấy năm trước vị đại tá này gặp tôi đang bới rác ở Gò Vấp, đã hỏi tôi mơ ước gì. Tôi nói chỉ mơ mỗi ngày có hai bữa ăn. Rồi tôi hỏi lại ông
đang mơ ước gì.
Ông nói thẳng một câu mà tôi không bao giờ quên:
“Tôi mơ bẻ gẫy cái cùm cộng sản này.”

Những gặp gỡ lén lút bất ngờ đó bừng sống lại khi tôi có mặt tại Mỹ và là lực đẩy mạnh vô bờ buộc tôi bằng mọi giá phải hình thành tủ sách Tiếng Quê Hương.


Sách dầy 488 trang – Ấn phí 25 usd.

Do đó, tôi vẫn chưa thể nhìn tới cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 tái bản tại Mỹ mà Hoàng Hải Thủy đưa cho từ năm 2003 là lúc tôi được bệnh viện Fairfax cho biết căn bệnh ung thư của tôi đã hết cách cứu chữa và tôi chỉ còn có mặt khoảng từ 6 tới 8 tháng nữa thôi.
Tôi thấy không thể dành số thời gian còn lại quá ngắn này cho điều gì ngoài sự tập trung lo cho Tủ Sách Tiếng Quê Hương vừa hình thành nên vứt cuốn sách vào một góc.
Nhưng cái hẹn gặp gỡ tử thần như bác sĩ Romero báo trước không đến.
Tôi vẫn có mặt khi thời hạn trôi qua. Nhờ vậy, năm 2009 tôi đã có một ngày mở cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 do Hoàng Hải Thủy tặng.
Đây là lần đầu tôi mở cuốn sách kể từ khi nó chào đời tại Sài Gòn 39 năm trước — cuối năm 1970.
Điều đập vào mắt tôi là Hoàng Hải Thủy gạch xéo nhiều đoạn với
các dấu hỏi.
Tôi ngưng lại với dấu hỏi ở trang 42 và thấy nguyên văn một đoạn như sau:
Cái gì đó, ở Vũ Hoàng Chương là nỗi chán chường của con người bất đắc chí, lỡ dở yêu đương, công danh lận đận. Ở Xuân Diệu là sự căm hờn của kẻ thất thế, ngồi trong lao tù tiếc nhớ thuở vàng son dĩ vãng…”
Mấy dòng chữ không sai chính tả, in rõ ràng nhưng như một cú đấm khiến tôi sững sờ.
Sao có thể viết về thơ Xuân Diệu như vậy?
Tôi giải tỏa ngay thắc mắc vì thấy chỉ do lỗi ấn loát bỏ sót
một hàng chữ. Bởi tôi nhớ chắc nguyên văn phải như sau:
Cái gì đó, ở Vũ Hoàng Chương là nỗi chán chường của con người bất đắc chí, lỡ dở yêu đương, công danh lận đận. Ở Xuân Diệu là cảm xúc của tuổi yêu đương. Ở Thế Lữ là sự căm hờn của kẻ thất thế, ngồi trong lao tù tiếc nhớ thuở vàng son dĩ vãng…”
Thợ in chỉ bỏ sót 10 chữ, nhưng đổi hẳn nhận định của tôi và rộng hơn là đổi hẳn nội dung cuốn sách.
Các dấu hỏi của Hoàng Hải Thủy buộc tôi phải đọc lại cuốn sách từ dòng đầu tới dòng cuối chứ không dám đọc lướt từng trang và nhận ra không chỉ có nhiều dòng chữ bị bỏ sót mà còn nhiều đoạn bị đảo lộn sai trình tự.
Cách sắp chữ thuở đó là một trang giấy xé thành 2, 3 mảnh giao cho 2, 3 người thợ sắp xong rồi ráp lại.
Cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900 -1960 không phải bản thảo viết trên một mặt giấy mà là bản in ronéo nên mặt sau trang giấy cũng có chữ và trở nên hỗn loạn vì người nhận mảnh A1 phải sắp tiếp mảnh B4, người nhận mảnh A2 phải sắp tiếp mảnh B5, người nhận mảnh A3 phải sắp tiếp mảnh B6. Do đó, xếp typo sẽ đứng trước chuỗi chữ sắp xong theo thứ tự A1-B4, A2-B5, A3-B6 để gom lại đúng thứ tự A1-A2-
A3 rồi B4-B5-B6.
Dù là chuyên gia cũng khó tránh phạm lỗi do vẫn có phút giây sao lãng. Hơn nữa khi xé một tờ giấy in hai mặt chắc chắn đã có một số dòng biến đi.
Tôi mất trọn 2 ngày mới đọc xong 400 trang sách và gần như mất hồn về thực tế đã xẩy ra.
Bởi sự bất toàn về ấn loát không chỉ đem cho riêng tôi nỗi bực bội mà chắc chắn gây phiền lòng không ít cho bạn đọc đã mua và đọc sách, nhất là bản in tái bản chỉ chụp lại nguyên vẹn bản in đầu với các lỗi đã hiện ra trước mắt tôi khiến các bản in không chỉ đổi cuốn sách thành một cuốn sách khác mà thực sự là một mớ chữ hỗn loạn.
Nhưng tất cả đều là chuyện đã rồi.
Tôi không còn biết nói gì hơn ngoài sự chân thành tạ lỗi cùng bạn đọc là đã không hoàn tất được tối thiểu trách nhiệm của chính mình.
Tôi tạ lỗi không để xin tha thứ mà chỉ mong bạn đọc từng bị cuốn sách gây phiền toái hãy cảm thông xóa bỏ nỗi phiền để tìm lại những giây phút nhẹ lòng.
Phần tôi, để cụ thể lời tạ lỗi, chỉ còn biết chỉnh lại các lỗi ấn loát qua hai bản in, cố sức phục hồi nguyên bản sơ thảo đầu năm 1960, chính xác là bản nháp cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900 – 1960 để xin ý kiến của bạn bè.
Văn học sử gia Nguyễn Thiên Thụ trong tác phẩm Lịch Sử Văn Học Việt Nam từng ghi rõ về cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 như sau:
“Quyển Thơ Việt Hiện Đại có khoảng ba ngàn trang, viết từ 1956 đến 1960, là một công trình nghiên cứu và phê bình thi ca Việt Nam từ đầu thế kỷ.
Bộ này có ba phần:
– Nhận định tổng quát
– Phê bình các tác giả tiêu biểu
– Tuyển tập.
Khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt ông thì toàn bộ bản thảo mất hết.
Cuốn Thơ Việt Hiện Đại in ra chỉ là phần thứ nhất, gồm 400 trang, là phần phác thảo, không hoàn toàn giống với bản thảo đã bị mất.
Sau đó, tác giả lại bị tù, không có thì giờ tiếp tục công việc…
Đường lối phê bình của ông rất đặc biệt, tiếc rằng các chế độ cả hai bên Quốc – Cộng đã ngăn chận những hoạt động văn hóa của ông.”
Trích lại những dòng trên, tôi xin được gửi tới văn học sử gia Nguyễn Thiên Thụ lời tri ân chân thành nhất và cũng để tái xác định cùng bạn đọc rằng cuốn Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 từng ấn hành tại Việt Nam năm 1970 rồi tái bản tại Hoa Kỳ và bản hiệu đính mà bạn đang cầm trên tay lúc này chỉ là bản nháp khởi đầu chứ không phải bản thảo hoàn tất vào cuối năm 1960.

Do chỉ là bản nháp nên chắc chắn vẫn còn không ít sơ sót, chẳng hạn nhiều đoạn trích dẫn không ghi rõ xuất xứ, nhiều nhận định cùng sự liệt kê về các tác giả không nêu đầy đủ mọi chi tiết v.v và v.v…
Cho nên, tôi vẫn xin một lần nữa tạ lỗi cùng bạn đọc là ngoài việc chỉnh lại các lỗi ấn loát của hai bản in đã có mặt, tôi hoàn toàn bó tay trước nhiều lỗi khác vì không thể tìm lại được bản thảo thất lạc từ năm 1963.
Theo thói quen phổ biến vẫn coi tác phẩm văn nghệ như đứa con tinh thần của tác giả thì Thơ Việt
Hiện Đại 1900-1960 là đứa trẻ sinh thiếu tháng với hình dạng bất toàn.
Dù vậy, thượng tọa Thích Đức Nhuận vẫn coi nó có đủ hình dạng đứa con tinh thần khi bảo nó là một tác phẩm, và do lòng thương yêu, thượng tọa đã lo cho nó có mặt trên đời. Có thể bảo nó sống lại nhờ một trái tim từ ái vô bờ và sau đó trưởng thành nhờ không ít bàn tay nâng đỡ của những bạn đọc yêu mến thơ.
Việc duy nhất tôi làm được trong khoảng tháng ngày mỏng manh còn lại hiện nay chỉ là cố gắng hồi phục hình dạng bất toàn của nó đã không may bị bẻ gẫy và bóp nát nhiều phần ở phút sơ sinh thiếu tháng đến mức gần như bị thay hình đổi dạng qua 2 bản đã được phát hành.
Vì trên thực tế, bản thảo tác phẩm Thơ Việt Hiện Đại 1900-1960 mà tôi hoàn tất cuối năm 1960 đã thực sự biến mất hẳn từ giữa năm 1963 không còn thấy bóng dáng ở đâu.
Nhìn lại những đoạn đường đã qua, trước mắt tôi lúc này chỉ nổi bật một điều duy nhất từng giúp tôi liên tục vượt khỏi các trở ngại khó khăn là tấm lòng từ ái thân thương mà tôi đã đón nhận từ rất nhiều người.
Cho nên ước mơ cuối cùng của tôi chỉ là cùng với mọi người luôn được tiếp nhận và cũng luôn cố gắng tự biểu hiện nổi tấm lòng trân quý đó, bởi đó chính là nguồn năng lực vô song sẽ giúp hết thẩy chúng ta giữ mãi được sự sống “đích thực là người.”
Virginia, December 18, 2019.

UYÊN THAO