TẾT MẬU THÂN 1968 (Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

Chương trình phát thanh “Những Vấn Đề Hôm Nay” chiều Chúa nhật 28 /01/2018

Mai Ly (01) Hôm nay là ngày 28/1/2018, cách nay 50 năm cũng vào thời điểm này, vào dịp Tết Mậu Thân (30 và 31 tháng 01-1968) cũng là ngày cuối năm âm lịch và bước sang năm mới Mậu Thân (ngày mùng Một Tết Nguyên Đán), quân Bắc Việt đã mở mặt trận gọi là “Tổng Công Kích” “Tổng Nổi Dậy” trong Tết Mậu Thân. Theo Mai Ly được biết, lúc đó Giáo Sư là Dân Biểu VNCH, Pháp nhiệm I (1967-1971) thuộc đơn vị tỉnh Thừa Thiên…Xin Giáo Sư cho biết cảm tưởng của GS về vụ Việt Cộng gây ra cuộc “thảm sát” đồng bào vô tội tại Huế?

GS Nguyễn Lý-Tưởng:

Tết Mậu Thân là một hành động dã man, diệt chủng mà Việt Cộng đã để lại trong lòng mọi người dân, nhất là thân nhân của những người đã bị Cộng Sản thảm sát, chôn trong những nấm mồ tập thể, bắt đi mất tích hoặc thủ tiêu ở đâu đó không tìm được xác, điển hình là tại TP Huế và tỉnh Quảng Trị cũng như khắp nơi trên toàn miền Nam VN (tức lãnh thổ VNCH trước đây) là một nỗi kinh hoàng, một niềm uất hận nghẹn ngào, một món nợ mà con cháu phải đòi kẻ sát nhân phải trả bằng máu! Đã 40 năm qua (1968-2008), nhưng phía Cộng Sản không tỏ ra có một chút hối hận, không một lời xin lỗi trái lại chúng còn tổ chức kỷ niệm chiến thắng Mậu Thân. Một cuộc chiến thắng giữa những người có súng với người tay không, giữa một võ sĩ hạng nặng với một em bé trên võ đài!? Những người vô tội trong đó có các nhà tu hành, sinh viên, học sinh, những người buôn bán và cả những công chức nghỉ phép ở nhà ăn Tết với vợ con. Họ đã chấp hành nghiêm chỉnh chính sách 12 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tự động trình diện học tập tại địa phương rồi họ bị đem đi thủ tiêu, chôn sống, giết tập thể hoặc mất tích không biết bị vứt xác nơi nào? Như thế mà gọi là chiến thắng được hay sao? Thật là mỉa mai. Chúng ta nhắc nhở cho mọi người “đừng quên Tết Mậu Thân”, nhắc nhở cho các thế hệ sau này đừng bao giờ tái diễn những hành động diệt chủng, dã man, tàn bạo như thế (không có một lý lẽ nào có thể giải thích, bênh vực, biện hộ cho hành động dã man của Cộng Sản trong Tết Mậu Thân..

Mai Ly (02): Xin Giáo Sư cho biết Tình hình Huế và Thừa Thiên trước Tết Mậu Thân 1968?

GS Nguyễn Lý-Tưởng:
Mấy tháng trước Tết Mậu Thân, tình hình ở tỉnh Thừa Thiên có vẻ sôi động. Trong thời gian vận động bầu cử Dân Biểu hạ Nghị Viện nhiệm kỳ 1967-1971, tháng 9 và tháng 10, 1967, tôi đã đi nhiều nơi trong tỉnh, qua khắp các quận, tiếp xúc với nhiềum anh em nhờ vận động đồng bào ủng hộ cho tôi trong cuộc bầu cử. Nhờ vậy, tôi mới có dịp tìm hiểu về tình hình quân sự ở đây. Tôi nghe anh em nhắc đến một số tên Việt Cộng xuất hiện ở vùng này, vùng khác.
Tôi có đem chuyện đó nói lại với một số Quận Trưởng tôi quen và nhất là thảo luận với hai ông Nguyễn Minh Truật (phụ trách An Ninh Quân Đội tại Khu 11 Chiến Thuật ở Huế) và ông Đoàn Công Lập (Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên). Căn cứ vào sự xuất hiện của một số cán bộ, bộ đội VC, các cơ quan chuyên môn về an ninh tình báo có thể biết tên các đơn vị VC xuất hiện.
Tại quận Phú Lộc, phía Nam tỉnh Thừa Thiên, Việt Cộng xuất hiện quấy phá nhiều nơi, thỉnh thoảng pháo kích vào các đồn, căn cứ của quân đội VNCH trogn quận, đánh các trụ sở xã,v.v Sư Đoàn 1 Bộ Binh do Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy đã điều động chiến đoàn Dù của Thiếu tá Đào Văn Hùng mở cuộc hành quân trong vùng Phú Lộc nhưng vì Việt Cộng khéo dấu quân nên không phát hiện được gì. Trong lúc đó, tin tình báo cho biết khu rừng thuộc quận Hương Trà (bắc Thừa Thiên) xuất hiện nhiều điện đài. Sư Đoàn 1 cũng cho hành quân vùng sông Bồ, nhưng cũng không có đụng độ. Tuy nhiên trong các cuộc hành quân trong vùng này quân đội ta đã bắt được một số súng ống và dụng cụ giải phẫu chôn giấu của Việt Cộng. Những dụng cụ này hoàn toàn mới.
Ngoài ra còn bắt được những mô hình để nghiên cứu hành quân trong đó VC đã phác họa địa thế gồm thành luỹ, hào sâu và chuẩn bị thang leo vô thành. Các dụng cụ y khoa đó, theo nhận xét của bên quân y thì có thể phục vụ cho cấp quân đoàn. Do những dữ kiện đó, nhiều người nghĩ rằng Việt Cộng có thể đánh Huế. Nhưng Tứơng Ngô Quang Trưởng thì nhận định rằng VC có thể đánh quận Hương Trà hoặc đánh vào một vị trí quân sự nào đó thuộc bắc Thừa Thiên. Tường Trưởng không ứơc tính rằng VC có thể đánh Huế.
Trước Tết Mậu Thân Sư Đoàn 101 của Hoa Kỳ hành quân bắt được một chuẩn úy VC, y khai đang thực tập đánh Huế. Tin Phòng Nhì và An Ninh Quân Đội cũng cho biết VC có thể đánh Huế. Hai ngày trứơc Tết, Trưởng Ty Cảnh sát Thừa Thiên là Đoàn Công Lập báo cáo có đặc công VC xâm nhập vào thành phố trong dịp Tết.

Mai Ly (03): Thưa Giáo Sư, theo như lời Giáo Sư vừa cho biết thì phía chính quyền VNCH tại Huế và Thừa Thiên cũng như Quân Đoàn I tại Đà Nẵng …đã có những tin tức về hoạt động của Việt Cộng chung quanh Huế. Tại sao các cấp chỉ huy quân sự và hành chánh không có kế hoặch đối phối với Địch?
GS Nguyễn Lý-Tưởng
Khi bày tỏ sự lo lắng của cá nhân tôi và một số người rằng VC có thể đánh Huế vào dịp Tết Mậu Thân, Trung Tứơng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh vùng I Chiến Thuật kiêm Đại Biểu Chính Phủ tại Huế (trứơc Tết Mậu Thân một hôm) đã cho tôi biết Quân Đoàn có tăng cường phòng thủ Huế hai đơn vị lính nhảy dù thiện chiến. Hai đơn vị này đã được Tướng Ngô Quang Trưởng bố trí ở quận Quảng Điền cách Huế 15 cây số về phía Bắc và phía Nam phi trường Phù Bài cách Huế 17 cây số. Do đó, khi VC tấn công vào thị xã Huế thì hai dơn vị này đều ở ngoài thành phố.
Khoảng 20 tháng 12 năm 1967, trước lễ Giáng Sinh mấy hôm, VC đã tấn công vào xã Thủy Phước (làng Công Giáo Phủ Cam) thuộc quận Hương Thuỷ bên cạnh Thành phố Huế. Chúng xâm nhập từ nghĩa địa phía sau núi Ngự Bình và phía Tây tới (lầu Jérard). Chúng bắn B.40 vào làm một số người chết và bị thương, một số nhà dân bị cháy. Trước đó, vào mùa Xuân 1966, khi có cuộc tranh đấu của Phật Giáo chống “chính phủ Thiệu-Kỳ” xảy ra ở Huế (danh từ này do nhóm tranh đấu thường dùng) thì có một lực lượng không rõ quân số bao nhiêu, vào buổi trưa, đã bắn vào Phủ Cam cũng từ hướng này. Nhân lễ Giáng Sinh năm 1967, lúc đó tôi là Dân Biểu Hạ Nghị Viện, trở về Huế tham dự với sinh viên. Tôi đã đến Phủ Cam nghiên cứu tình hình và thăm các gia đình nạn nhân. Sau đó tôi đã gửi văn thư xin Trung tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên trang bị cho nghĩa quân xã Thuỷ Phứơc (Phủ Cam) các loại súng lớn như đại liên, súng cối, M 79, M 72 để có hỏa lực mạnh. Tôi đã trình bày với ông Tỉnh Trưởng rằng Phủ cam rất quan trọng vì nếu VC có đánh vào Huế thì đó là một trong những con đường xâm nhập của họ từ hướng núi xuống. Nhưng ông Tỉnh Trưởng quá bận rộn với tình hình quân sự, chính trị lúc đó nên không đáp ứng đề nghị của tôi. Khi có ai đề cập đến vấn đề VC sẽ đánh Huế thì ông Tỉnh Trưởng thường cười và tỏ ra tin tưởng rằng không thể có chuyện đó được. Khi tôi nói chuyện đó với Tướng Ngô Quang Trưởng, ông trả lời rằng ông có đủ lực lượng phòng vệ và đã được Quân Đoàn tăng cường thêm hai đơn vị lính nhảy dù rồi. Xin lưu ý một điều quan trọng này: ngay tối 30 Tết, đã có một số đặc công Việt Cộng vào ở trong nhà dân và được cơ sở nằm vùng che chở. Mục tiêu chính của Việt Cộng là chiến tranh sẽ xảy ra từ trong thành phố (từ trong đánh ra chứ không phải từ ngoài đánh vào) nhưng Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh thì phòng thủ xa nghĩa là cho 2 tiểu đoàn lính Dù bố trí cách Huê 15 cây số phía Bắc cũng như phía Nam. Do đó, khi bọn nằm vùng và bọn đặc công mở cửa thành dẫn Việt Cộng vào thì lực lượng hùng hậu của ta đều ở bên ngoài Huế. Thành Huế vốn rất kiên cố nên rất khó để giải tỏa đánh bật quân Bắc Việt ra khỏi nơi đó. Ngoài ra vì thời tiết hơn mười ngày đầu rất xấu, máy bay hoạt đông không có hiệu quả…

Mai Ly (04): Thưa Giáo Sư, ngay khi Việt Cộng nổ súng, GS đang ở nơi nào mà không bị chúng bắt giết?

GS Nguyễn Lý-Tưởng:
Sáng 30 Tết, tôi đến Tòa Đại Biểu Chính Phủ Trung Nguyên Trung Phần (bên bờ sông Hương, Huế) để chúc Tết Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và các cấp chính quyền có mặt tại chỗ đó. Sau đó, tôi được ông Tỉnh Trưởng Phan Văn Khoa cho mượn xe để đi thăm và chúc Tết Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh, ở tại chùa Thiên Mụ Huế. Trước Tết, tôi đã gặp và nói chuyện với Thượng Tọa Thích Đôn Hậu trên máy bay từ Sài Gòn ra Huế, gần 3 tiếng đồng hồ. Sau đó, Thượng Tọa mời tôi đến thăm chùa vào dịp tất niên. Tôi là người thích nghiên cứu về văn hoá lịch sử nên những cơ hội may được tiếp xúc với các vị cao tăng như Thượng Tọa là điều tôi rất lấy làm vinh hạnh.
Rời chùa Thiên Mụ, tôi trở về nhà thu xếp đồ đạc và cùng người cháu đi Quảng Trị thăm bà mẹ của tôi hiện còn sống ở quê nhà, cách tỉnh lỵ Quảng Trị chừng 12 cây số, thuộc xã Triệu Thuận, quận Triệu Phong. Chúng tôi di chuyển bằng xe 2 bánh hiệu Suzuki của Nhật. Trước khi ra khỏi nhà, tôi đã cất hết giấy tờ, chỉ mang trong người thẻ sinh viên của Đại Học Sài Gòn mà thôi. Tôi thường làm như vậy đề phòng có chuyện bất trắc giữa đường. Tôi không bao giờ mang theo thẻ Dân Biểu khi đi về miền quê. Ý nghĩ VC sẽ tấn công vào dịp Tết cứ đeo đuổi tôi mãi trên đường đi. Tôi thật không yên tâm về tình hình và cảm thấy như ở đâu cũng có VC đang trà trộn trong dân chúng hay được che chở trong các gia đình trước đây theo phe tranh đấu chống chính quyền quốc gia. Tôi nghĩ rằng VC sẽ rất thuận lợi khi móc nối được những thành phần này.
Ra tới Quảng Trị, tôi ghé vào thăm ông Hoàng Xuân Tửu, cựu Tỉnh Trưởng và hiện là Nghị Sĩ, Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện. Ông Tửu là một người hoạt động cách mạng, hoạt động chính trị, đã từng tổ chức chiến khu và có biệt tài về quân sự và tổ chức tình báo nhân dân. Ông cho tôi biết, trong vòng một tuần nay, ông nhận được nhiều tin tức của các anh em cơ sở Đại Việt Cách Mạng tại tỉnh Quảng Trị cho biết có sự xuất hiện của nhiều đơn vị VC ở trong tỉnh và ước đoán hướng tiếân quân của chúng là thị xã Quảng trị. Từ 1966, sau khi ông Tửu thôi làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị để vào Sài Gòn thì đã mấy lần VC tấn công vào thị xã, phá nhà lao giải vây cho đồng bọn. Do đó, việc ước tính VC có thể tấn công vào thị xã trong dịp Tết không phải là chuyện vô lý. Ông Hoàng Xuân Tửu cũng cho biết ngay lúc đó, ông sẽ đi gặp Đại Tá Nguyễn Ấm, đương kim Tỉnh Trưởng Quảng Trị để thảo luận kế hoạch phòng thủ thị xã.
Chính quyền ra lệnh cấm trại 100% vào đêm giao thừa và bố trí các góc đường phố, các cao ốc đều có cảnh sát trang bị súng tiểu liên và lựu đạn. Những vị trí quân sự thường ngày đều thay đổi, cho binh sĩ dời địa điểm khỏi chỗ cũ và mai phục ở chỗ khác sẵn sàng chờ địch đến.

Ngày 3 Tết, từ Quảng Trị, tôi vào Đà Nẵng gặp Tướng Lãm
Tôi được ông Tỉnh Trưởng cho biết có công điện của Quốc Hội yêu cầu Quân Đoàn I và tỉnh liên lạc mời các Dân Biểu về họp khẩn cấp.
Tôi liền đi ra phi trường Ái Tử cùng Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu, Dân Biểu Nguyễn Văn Triển, Dân Biểu Trương Đình Tư. Chúng tôi lên máy bay Mỹ vào Đà Nẵng gặp Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Ngày mùng Hai, Tết Mậu Thân, từ Quảng Trị, chúng tôi đã nói chuyện với Trung Tướng Lãm qua điện thoại, được biết VC đã chiếm Huế, Quân Đoàn chỉ liên lạc được với Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, không có tin tức về Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, có lẽ ông đã bị VC bắt hay đang trốn tránh.
Máy bay cất cánh từ phi trường Ái Tử, thời tiết rất xấu, không nhìn thấy gì ở dứơi mặt đất. Đến Đà Nẵng, ở lại một đêm tại nhà Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, tôi và ông Hoàng Xuân Tửu được Trung Tướng Lãm cho biết tình hình hành quân, những đơn vị còn chiến đấu chưa bị chiếm. Qua điện đài của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, tôi nghe tiếng của Tướng Trưởng xin rút khỏi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tại Mang Cá (Thành Nội, Huế). Nhưng Trung Tướng Lãm trả lời:“Anh cứ ở đó, chờ đợi tôi giải tỏa, sau lưng anh có thằng Đệ (Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đệ, Quận Trưởng Hương Trà) và phía bao Vinh có Hải Quân Mỹ, ở Quảng Trị quân ta chiến thắng, sẽ có tiếp viện vào, quân Mỹ ở Phù Bài và quân đội Việt Nam ở Hương Thuỷ, Phú Lộc đang tiến chiếm phía Nam thành phố Huế Ở Đà Nẵng, chúng tôi đánh bật tụi nó ra rồi. Quân ta làm chủ tình hình ” (các chứng nhân hiện còn sống chỉ trừ ông Hoàng Xuân Tửu đã chết trong trại tù năm 1989 mà thôi).
Tại Đà Nẵng, tôi được ông Đỗ Duy Huỳnh, Trưởng Ty Thông Tin hướng dẫn đến đài Truyề hình của quân đội Mỹ ở núi Sơn Chà để trực tiếp kêu gọi đồng bào tổ chức cứu trợ cho Huế. Lúc đó, tôi được tin đồng bào đang chạy về khu nhà thờ Phù Lương gần Phù Bài lên đến 50.000 người. Tôi cũng được ông Võ Lương, Giám Đốc Cảnh Sát Vùng I ở Đà Nẵng dùng máy liên lạc cho tôi nói chuyện với ông Đoàn Công Lập, Trưởng Ty Cảnh Sát Huế để hỏi thăm tin tức, tình hình ở Huế. Qua đó, tôi biết được một số bạn bè ở Huế còn sống hay đã bị bắt, bị giết.
Ngày hôm sau, chúng tôi lại lên máy bay đi Nha Trang vì phải đón các Dân Biểu ở đó. Tại Nha Trang cũng vừa xảy ra một cuộc giao tranh trong thành phố và quân ta cũng đã đánh bật địch quân ra khỏi thành phố ngay trong vòng một hai hôm. Chúng tôi cũng được tin ở Quảng Ngãi, VC bị thảm bại và tổn thất rất nặng. Các nơi đều báo tin chiến thắng, chỉ có Huế là trầm trọng nhất.

Họp Quốc Hội tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân
Máy bay đến phi trường Tân Sơn Nhất Sài Gòn vào ngày 5 Tết, toàn thành phố đang giới nghiêm, chúng tôi được Cảnh Sát Dã Chiến hộ tống về thẳng Quốc Hội, ở lại đó làm việc liền. Một số Dân Biểu không về họp được vì bị kẹt ở địa phương, có người đã bị VC bắt như một vị dân Biểu gốc thiểu số ở Ban Mê Thuột. Để đối phó với tình hình, Quốc Hội phải thông qua Luật Ngân Sách do Hành Pháp chuyển qua để Tổng Thống và Chính Phủ có thể mượn Ngân Hàng trước,có tiền trả lương cho quân nhân, công chức, cán bộ và chi tiêu khẩn cấp.

Phái đoàn cứu trợ Trung Ương ra Huế khi hai bên còn đánh nhau
Nghe tin phía Nam thành phố Huế đã được giải tỏa, chúng tôi vận động một phái đoàn Quốc Hội và Chính Phủ ra thăm và cứu trợ đồng bào. Phái đoàn Trung Ương ra Huế gồm có Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn, Phó Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, Dân Biểu Phan Huy Đức, Dân Biểu Nguyễn Lý-Tưởng và một số Phụ Tá của Phó Tổng Thống,v.v Máy bay ra Đà Nẵng, từ đó dùng trực thăng của Quân Đoàn I ra Phù Bài.
Phó Tổng Thống và phái đoàn vào phòng thuyết trình của căn cứ Mỹ ở phi trường nghe thuyết trình. Lúc bấy giờ quân đội VNCH và Hoa Kỳ đã giải tỏa được phía Nam sông Hương và chiếm các phố Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu nhưng trong Thành Nội và vùng Gia Hội, Phủ Cam vẫn còn bị VC chiếm. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn vẫn còn đóng ở Mang Cá. Tướng Ngô Quang Trưởng phải dùng máy bay trực thăng đi qua ngã Bao Vinh để về Phù Bài gặp phái đoàn Trung Ương.
Phái đoàn từ Huế đến có Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, Thiếu Tá Lê Thiện Phước, Trưởng Phòng Nhì Sư Đoàn,v.v (Trung Tá Khoa, Tỉnh Trưởng trốn ở trong bệnh viện Huế, khi quân đội ta tiến vào, ông bèn chạy qua Tiểu Khu).
Nghe thuyết trình xong, Phó Tổng Thống và Phái Đoàn Sài Gòn đến nhà thờ Phù Lương, nơi đó có khoảng trên 50.000 người tỵ nạn từ Huế mới chạy đến. Linh Mục Nguyễn Văn Trinh, Chánh xứ Phù Lương, đã đón tiếp và cho họ vào tạm trú trong trường học và trong nhà giáo dân quanh nhà thờ. Thực phẩm và thuốc men thiếu, quán xá không có đủ để bán cho dân và giá cả tăng vụt gấp mười, gấp trăm lần ngày thường. Trong khi chạy loạn, một chiếc xe Honda 2 bánh chỉ đổi được một bao gạo Tôi hướng dẫn Phó Tổng Thống đi thăm dân và phát quà tượng trưng cho họ.
Thấy phái đoàn Trung Ương đến, dân chúng khóc sướt mướt. Từng ngàn người đứng chen chúc nhau trong mưa lạnh, tranh nhau nhận gạo, tiền và thực phẩm. Quân đội Mỹ và Việt Nam chở thực phẩm, đồ hộp đến chất thành đống như núi, phát cấp tốc cho đồâng bào.
Phó Tổng Thống và phái đoàn trở về Đà Nẵng cùng Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, riêng tôi theo Trung Tá Phan Văn Khoa lên Huế. Tướng Trưởng trở lại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn ở trong Thành Nội. Máy bay chở tôi và Trung Tá Khoa xuống bãi đáp trước Trường Đại Học Sư Phạm Huế, cạnh bờ phía Nam sông Hương. Thấy máy bay sắp đáp xuống, Việt Cộng bên Thành Nội bắn qua. Thiếu tá Lê Thiện Phước nhanh tay đẩy tôi nhảy xuống một cái hố cá nhân để núp đạn. Tôi và Trung Tá Phan Văn Khoa chạy vào Tiểu Khu bên cạnh Trường Đại Học Sư Phạm. Một cảnh tượng xảy ra, tôi thấy Giáo Sư Phạm Đình Bách (em Nghị sĩ Phạm Đình Ái) đang đứng gần đó thì một trái đạn của VC bắn qua, tiếng nổ chát chúa và GS Phạm Đình Bách ngã xuống. Ông bị thương và được trực thăng chở vào Đà Nẵng thì chết.
Tôi vào Tiểu Khu Thừa Thiên, gặp Đại Tá Cao Khắc Nhật, Trưởng phòng hành quân của Quân Đoàn I tăng cường ra Huế, Thiếu Tá Nguyễn Giang, Trưởng phòng hành quân của Tiểu Khu và một số sĩ quan đang làm việc, theo dõi tình hình. Tôi cũng tham gia ý kiến với họ. Sau đó, tôi qua Ty Cảnh Sát, tại đây, ông Trưởng Ty là Đoàn Công Lập thuyết trình cho tôi biết tình hình trong tỉnh và thuật lại các trận đánh phía Nam thành phố trong những ngày qua. Tôi cũng gặp ông Nguyễn Văn Khuyên, Phó Ty Chiêu Hồi Thừa Thiên. Lúc đó, Trưởng Ty Chiêu Hồi mới chết ở trong Thành Nội (nơi đặt văn phòng Ty Chiêu Hồi) nên ông Khuyên được lên làm Quyền Trưởng Ty. Ông chở tôi đi từ Huế về quận Hương Thủy bằng xe Honda 2 bánh, trên đường đi, tôi gặp Dân Biểu Nguyễn Ngọc Ngghĩa trong đám người chạy loạn. Tôi đến những nơi đồng bào đang trú ngụ như trường Quốc Học, Đồng Khánh, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, trường Thiên Hựu, Tiểu Chủng Viện, trường Jeanne d’Arc,v.v để thăm hỏi và tìm người quen. Trong lúc đó, khu vực Phủ Cam, khu vực Gia Hội, Nam Giao, Vỹ Dạ, Đập Đá, Thành Nội và các vùng quê đều bị Việt Cộng chiếm. Cũng có nơi Việt Cộng tập trung đánh Huế nên nhiều vùng không có du kích VC hoạt động.

Diễn tiến trận đánh trong Tết Mậu Thân tại Huế
Việt Cộng xâm nhập thành phố qua sự móc nối với những thành phần chống chính phủ, thành phần thiên Cộng trong sinh viên học sinh và cơ sở nằm vùng của chúng. Đa số bị lừa dối bằng luận điệu tuyên truyền: chống Mỹ, giải phóng, hoà bình, hoà hợp hoà giải dân tộc, phục hồi địa vị cho Phật Giáo thời Lý, thời Trần,v.v Lợi dụng lệnh hưu chiến và Tết nguyên đán Mậu Thân, dân chúng vui chơi, nghỉ ngơi trong ba ngày Tết, người đi chợ, đi mua sắm, đi lễ đêm giao thừa đặc công VC đã xâm nhập và được che dấu trong dân chúng.
Theo ước tính của Việt nam Cộng Hoà thì lực lượng VC đánh vào Huế trong Tết Mậu Thân có khoảng 16 tiểu đoàn. Ước tính này dựa vào lời khai của tù binh VC mà bên chúng ta bắt được, mỗi người lính thuộc đơn vị nào, tiểu đoàn nào. Về phía Mỹ, họ cũng căn cứ trên lời khai của tù binh và cho rằng có đến 21 tiểu đoàn VC mở cuộc tổng tấn công Huế trong Tết mậu Thân 1968. Lực lượng đó có Trung đoàn 6 Quân Khu Trị Thiên, Tiểu Đoàn 804 và 802 cộng với Lực lượng đặc công nội thành. Người nổi tiếng trong Bộ Chỉ Huy này thường gọi là Giáo Kế.
Lực lượng này từ phía tả ngạn sông Hương (phía làng la Chử) đi xúông. Phía hữu ngạn sông Hương có Trung Đoàn 5 do Thân Trọng Một chỉ huy. Lực lượng này đánh đồn Nam Giao, Macv (Cố vấn Mỹ). Sau đó có sự tăng cường của Sư Đoàn 324 B từ Bắc Việt điều động vào. Tổng Chỉ Huy là Tướng Hoàng Sâm (Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên), Chính Ủy là Lê Chưởng. Theo hồi ký của Văn Tiến Dũng thì Hoàng Sâm đã bị tử trận và Trần Văn Quang lên thay (Bùi Tín cho biết Hoàng Sâm chết tại bệnh viện vì bị bệnh ung thư). Có lẽ Hoàng Sâm đã chết trong trận đụng độ lớn với quân Mỹ tại La Chử sau khi giải tỏa Huế.
Đêm giao thừa 30 tháng Chạp Đinh Mùi tức 29/01/1968 VC bắt đầu xâm nhập, mùng một Tết thì chúng đã vào thành phố rồi, đồng bào đi lễ tết đã gặp VC. Lúc 3 giờ 40 sáng, VC tấn công khắp nơi trong thành phố. (Có tài liệu cho biết rằng lúc đầu có lệnh tấn công sau giờ giao thừa Hà Nội, nhưng sau đó, Tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh hoãn lại nên có những nơi không nhận được lệnh này, do đó một số địa phương đã được lệnh khai hỏa sớm hơn như ở Quảng Trị, VC đã tấn công ngay sau giờ giao thừa ).
Những nơi VC chiếm được là những nơi không có quân đội trấn đóng như Toà Đại Biểu Chính Phủ, Toà Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên, Toà Án, các Ty, Sở,v.v Các nơi khác như Toà Hành Chánh Quận Nhất, Quận Nhì, Quận Ba trong thành phố chỉ có vài cảnh sát viên gác cổng. Trung Tâm Cải Huấn Thừa Thiên (tức lao xá Thừa Phủ), đơn vị Cảnh Sát bảo vệ tại đây đã chiến đấu rất hăng nhưng không có tiếp viện, hết đạn, hết lựu đạn nên phải bỏ chạy. VC đã giải thoát cho đồng bọn bị giam cũng như tù hình sự. Đại đội Trinh Sát đ1ong ở Thành Nội, đa số nhân viên, binh sĩ đi công tác ở ngoài chỉ còn lại mấy ngừơi giữ nhà, đã bị VC chiếm.
Những nơi không bị chiếm, vì có lực lượng quân đội hay Cảnh Sát Dã Chiến trấn giữ. Đó là:
– Đồn Trường Bia (Ngoẹo Giàng Xay) gần núi Ngự Bình, An Cựu.
– Đồn Nam Giao (Tiểu Đoàn 1 Công Binh). Đồn này bị bao vây gần một tháng, anh em chịu đói, chiến đấu không đầu hàng, nhờ tiểu đoàn 12 pháo binh ở Phù Bài yểm trợ, bắn phá khu vực chung quanh đồn nên VC không chiếm đồn được.
– Đài Phát Thanh Huế (gần cầu Trường Tiền, do một Trung Đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ).
– Tiểu Khu Thừa Thiên ở đường Duy Tân, Huế, gần cầu Trường Tiền.
– Macv ở đường Duy Tân Huế, gần Tiểu Khu có lính Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ canh gác.
– Ty Cảnh sát Thừa Thiên ở sau lưng Tiểu Khu do lực lượng Cảnh sát chiến đấu. Ba đơn vị: Tiểu Khu, Macv, Ty Cảnh Sát nằm trong một khu vực, tựa lưng vào nhau, yểm trợ cho nhau, đẩy lui được nhiều đợt tấn công của VC nên chúng không chiếm được.
Khi nghe tin VC xuất hiện, xe cơ giới của Tiểu Khu do Thiếu Tá Bào chỉ huy, chạy qua cầu Trường Tiền thì bị VC bắn hạ. Thiếu tá Bào chết tại trận, sau đ1o cầu Trường Tiền bị VC giựt sập để ngăn cản không cho quân ta tiếp viện sang nên quân Mỹ và Việt Nam phải đổ bộ bằng tàu thủy.
– Đại đội Hắc báo giữ sân bay Thành Nội và bệnh viện Nguyễn Tri Phương đã chiến đấu anh dũng và không bị VC chiếm.
– Đại đội I Quân Cụ đóng ở trong Thành Nội Huế đã chiến đấu gần một tháng trời, trong đồn chỉ có một Trung Đội, số khác ở bên ngoài, về nhà ăn Tết, nhưng tinh thần bất khuất của anh em đã thắng, VC không thể đánh chiếm đồn.
– Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 ở trong Thành Nội (Mang Cá) có khoảng vài trăm người vẫn giữ vững được vị trí trong suốt thời gian VC chiếm Thành Nội.
– Khu Bao Vinh phía sau lưng Mang cá, bên ngoài thành và Quận Hương Trà, vẫn giữ vững trong súôt thời gian VC chiếm Huế, nhờ vậy Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn mới tồn tại được.
– Quận Hương Trà do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đệ làm Quận Trưởng, Đại Uý Nguyễn Văn Phiếm làm Chi Khu Phó vẫn giữ vững và bảo vệ an ninh cho khu vực các xã chung quanh quận.
– Quận Hương Thuỷ không bị tấn công gì vì gần phi trường Phù Bài, nơi có căn cứ Mỹ, Đại Úy Nguyễn Văn Tăng đã đem quân tấn công VC ở làng Phủ Cam và giải vây cho Quận Hữu Ngạn, vùng An Cựu Huế.
– Tiểu Đoàn 12 Pháo Binh do Đại Úy Văn Tuyở Phù Bài đã giữ vững đồn và bắn yểm trợ cho các đồn chung quanh.
– Đồn Văn Thánh, phía trên chùa Thiên Mụ, chung quanh bị VC bao vây, vẫn giữ được đồn cho đến ngày giải tỏa.
– Các Quận Nam Hoà (ở miền núi), Hương Điền, Phong Điền, Quảng Điền, Phú Lộc, Vinh Lộc, Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Phú Thứ vẫn giữ vững, không bị mất quận nào.
– Vùng bao Vinh nhờ lực lượng Hải Quân Mỹ từ Thuận An lên yểm trợ cho căn cứ hải Quân ở đây nên không bị chiếm.
– Tại Đập Đá (đường đi về Vỹ dạ) có Hải Quân Giang Đoàn 32 Xung Phong nên không bị chiếm.

Các lực lượng giải vây cho Huế
Báo Ngừơi Việt ra ngày 25/2/1997 có bài “Cuộc Hành Quân Tái Chiếm Huế sau Tết Mậu Thân” của Nguyễn Hữu Nguyên. Bài này đã dựa vào tài liệu của Mỹ rất nhiều nên người đọc chỉ thấy Mỹ đánh nhau với VC mà không thấy được sự chiến đấu và vai trò của Quân Lực VNCH cùng các lực lượng Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn, v.v trong việc giải tỏa Huế.
Vì thế, chúng tôi xin đóng góp thêm một số chi tiết về phía Việt Nam.
Hiện nay, các cấp chỉ huy ở Huế thời gian xảy ra biến cố Mậu Thân vẫn còn nhiều ở Mỹ, nhất là ở Cali, chúng tôi ước mong qúy vị đó sẽ đóng góp thêm.
– Trung Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 1 do Trung Tá Phan Bá Hòa chỉ huy, đóng ở cây số 17, phía Bắc Huế là lực lượng có công trong việc đánh đuổi VC ra khỏi Huế. Tiểu Đoàn 2/3 do Thiếu Tá Phạm Văn Đính từ Văn Thánh, Tiểu Đoàn 3/3 do Thiếu Tá Phan Ngọc Lương và Tiểu Đoàn 4/3 do Thiếu Tá Nguyễn văn Lữ. Phan Ngọc Lương và Phạm Văn Đính đã tiến vào Thánh Nội, hạ lá cờ của MTGPMN (Việt Cộng) xúông, và treo lá cờ VNCH lên vào ngày 25/2/1968. Hình ảnh của 2 người này đã được sách báo thời đó đăng tải. Năm 1972, VC chiếm Quảng trị, Phạm văn Đính ở căn cứ Đông Hà, không có tiếp viện, đã đầu hàng. Phan Ngọc Lương sau này trở thành thương phế binh, sau 1975 tổ chức lực lượng đánh phá VC, bị bắt và bị xử tử tại Chín Hầm, Huế cùng các đồng chí trong đảng Đại Việt Cách Mạng (vào năm Mậu NGọ, 1978). Nguyễn Văn Lữ sau này lên tới Đại Tá Trung Đoàn Trưởng, hiện ở Đan Mạch.
– Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn 1 do Trung Tá Vũ Văn Giai từ Quảng Trị bay trực thăng vào Huế, gọi máy liên lạc với Tứơng Trưởng xin lệnh đem quân vào tiếp viện.
– Chiến Đoàn 1 Dù do Thiếu tá Lê ở Quảng Trị kéo vào giải vây cho Huế, dùng trực thăng vận nhảy xuống chiếm cửa Đông Ba. Trong trận này, quân Dù của ta thiệt hại nặng, phải về Sài Gòn bổ sung quân số, Thủy Quân Lục Chiến ra thay.
– Chi Đoàn Thiết Giáp 2/7 do Đại Úy Nguyễn Hoá bị chận ở An Hoà phải vòng qua Triều Sơn Tây mới vào được Huế.
– Thiếu Tá Hoàng Tích Thông, Chiến Đoàn Trưởng Thuỷ Quân Lục Chiến được đưa từ Sài Gòn ra thay thế Chiến Đoàn 1 Dù của Thiếu Tá Lê Quang vì Chiến Đoàn Dù bị tổn thất nặng. Thuỷ Quân Lục Chiến đóng quân từ Cửa Sập (tức Cửa Già Đồ) ở góc thành gần cầu Bạch Thổ đến Cửa Hữu (cống Thủy Quan).
– Từ cống Thủy Quan đến Cửa Hữu là phạm vi trách nhiệm của Trung Đoàn 3 (Sư Đoàn 1) do Trung Tá Phan Bá Hoà và Đại Đội Hắc Báo.
– Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân của Thiếu tá Nguyễn Văn Hiệp trách nhiệm giải tỏa khu vực Gia Hội. Trong Liên Đoàn này có ba Tiểu Đoàn Trưởng danh tiếng là Thiếu Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Nguyễn Văn Chước và Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy.
– Có một đơn vị nhỏ, nhưng không kém phần quan trọng là đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1 do Thiếu Úy Nguyễn Tri Tấn, đã có công phát hiện nhiều đơn vị của địch ở vùng Nam Giao.

Quân Mỹ tấn công Bộ Chỉ Huy Việt Cộng tại làng La Chữ
Lực Lượng của Mỹ tham gia hành quân gồm có Sư Đoàn I Không Kỵ, Sư Đoàn 101 Dù và 82 Dù khoảng 7 lữ đoàn. Riêng Sư Đoàn 1 Không Kỵ có 500 máy bay trực thăng từ Bồng Sơn (Bình Định) được chở ra Huế, đơn vị này đã tấn công Bộ Chỉ Huy VC ở làng La Chử, quận Hương Trà.
Có một Nghĩa quân và một Trung Đội Trưởng Nghĩa Quân thuộc xã Hương Chử, quận Hương Trà bị VC bắt, trốn thoát được, cho biết Bộ Chỉ Huy cao cấp của VC đóng ở làng La Chử nên Tứơng David, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn I Không Kỵ mở cuộc hành quân vào làng La Chử.
Trước Tết, Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên hướng dẫn cho tôi đi thăm La Chử. Đây là một ấp kiểu mẫu, dân trong làng đa số là người có học, làm công chức hoặc cán bộ trong chính quyền qúôc gia. Làng này có họ Hà Thúc nổi tiếng ở Huế, nhiều người đỗ đạt, làm quan. Đây cũng là nơi sinh trưởng của ông Hà Thúc Ký, lãnh tụ đảng Đại Việt Cách Mạng nên cơ sở của đảng Đại Việt Cách Mạng ở đây rất mạnh. Trong khi VC chiếm đóng làng này, chúng đã bắt và giết nhiều người rất dã man, nhất là các đảng viên ĐVCM.
Lúc đầu, Việt Cộng im lặng, không có tiếng súng phản công. Nhưng khi quân Mỹ đến gần thì hỏa lực của địch bắn ra rất mạnh, có 9 trực thăng của Mỹ bị hạ. VC và lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đánh cận chiến. Vì đây là Bộ Chỉ Huy của VC nên lực lượng phòng vệ của địch quyết tử chiến, không nao núng. Từ sáng cho đến 3 giờ chiều, trực thăng của Mỹ từ Bồng Sơn ra tăng cường đổ xuống bao vây vùng núi chung quanh La Chử. Bom đạn đổ xuống làng Quế Chử (gần La Chử) để mở bãi đáp cho trực thăng chở quân đổ bộ xuống. Vùng núi này hoàn toàn bị bình địa, làng Quế Chử về sau đã bị xoá tên trên bản đồ. Quân Mỹ chết ở La Chử nhiều nhất (trên 100). Ngày 25 và 26/2/1968, sau khi giải tỏa Huế, VC mới cho lệnh rút quân. Trong hồi ký của Văn Tiến Dũng xác nhận Tướng Lê Chưởng và Hoàng Sâm chết, có lẽ đã chết trong trận này vì Bộ Chỉ Huy của VC đóng ở đây.
Số anh em công chức, cán bộ và binh sĩ về phép ăn Tết với gia đình bị kẹt trong Thành Huế, nhờ có máy liên lạc của Cảnh Sát quốc gia nên đã biết được những nơi nào có quân đội của ta và họ đã chạy về hướng đó. Cảnh sát, Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân, Công Chức, Binh Sĩ,v.v đã lập được một phòng tuyến ở khu Tây Linh, bên ngoài Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 (đồn Mang cá) để tự vệ.
Tại Tiểu Khu, chúng tôi cũng đề nghị mở cuộc hành quân áp sát vào khu vực Phủ Cam để cho đồâng bào trong đó chạy ra, và từ đó mới có tin tức VC ở bên trong. Nếu cứ giữ nguyên vị trí thì không thể biết được tình hình địch như thế nào.
Đại Đội Võ Trang Chiêu Hồi tại Ty Chiêu Hồi (trong Thành Nội) gồm những người từ hàng ngũ VC trở về với Quốc Gia nên họ đã chiến đấu tích cực, không chịu đầu hàng. Trưởng Ty Chiêu Hồi đã bị tử trận.
Khi VC tiến vào Huế, mỗi người lính của chúng đều được cấp phát cho một bộ áo quần mới để chuẩn bị diễn hành chiến thắng. Không hiểu chúng có dụng ý gì? Phải chăng đây là một thủ đoạn lừa dối? Trong những ngày cố thủ trong Thành Nội, vì tình trạng chiến tranh, không có họp chợ, không có mua bán gì nên nhân dân cũng đói mà VC lại càng đói hơn. Chủ trương của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I là không được ném bom vào khu vực Đại Nội (chỗ vua ở) vì sợ phá huỷ các di tích lịch sử, nên chỉ bao vây và đánh chiếm từng vị trí một. Thành Ngoại quá kiên cố, VC “đóng chốt” trên các cửa thành, đặt súng phòng không nên việc phá các cửa thành rất khó, dùng bom hạng nặng cũng không phá sập được.
VC ở lâu trong thành, không có tiếp tế lương thực, súng đạn nên khi chúng rút lui, nhiều tên còn trốn dưới các cống nước, dưới ao, trong các bụi cây, quá đói, đã ra đầu hàng khi quân ta tiến vào thành. Nếu nằm lâu trong các nơi đó thì chúng cũng chết đói mà thôi. Đa số lính VC đều nói giọng Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An hoặc giọng Bắc. Người gốc Huế không bao nhiêu.

Tết Mậu Thân tại Quảng Trị
Tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng thảm bại trước sức chiến đấu anh dũng của Nghĩa quân thôn Dương Lộc: 108 cán binh Việt Cộng chết.
– Hành động dã man của Việt Cộng: Linh Mục Giuse Lê Văn Hộ và hai em Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Lụt bị bắt đem đi chôn sống.

Trên đường về quê ăn Tết
Từ khi Việt Minh cướp chính quyền 1945 tại Hà Nội, rồi lan dần tới các tỉnh Miền Trung thì Dương Lộc là một làng Công Giáo thuộc tổng An Giạ, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tự vệ như Bùi Chu, Phát Diệm ở ngoài Bắc. Sau 1954, chính quyền quốc gia dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh giải tán tổ chức tự vệ này nhưng từ 1960 trở đi chính quyền quốc gia đã cho các xã ấp tổ chức lực lượng võ trang gọi là Nghĩa quân để bảo vệ an ninh tại nông thôn Vùng này được xem như an toàn nhất từ 1945. Việt Cộng đã thảm bại nhiều lần khi tấn công lực lượng tự vệ Công Giáo Dương Lộc từ 1947-1954.
Sau khi gặp Đại Tá Nguyễn Ấm, tôi về thăm mẹ và ăn Tết với gia đình tại làng Dương Lộc, xã Triệu Thuận, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là quê nhà của tôi. Tôi cũng đem câu chuyện trao đổi giữa ông Hoàng Xuân Tưủ và Đại Tá Nguyễn Ầm tại tư dinh Tỉnh Trưởng Quảng Trị trưa hôm nay nói lại với anh em thanh niên võ trang trong làng. Tối ba mươi, trong giáo xứ có tổ chức phát thanh, ca hát, chúc Tết trước giờ giao thừa. Cha cũng gởi lời chúc Tết đến bà con trong giáo xứ.
Mấy hôm trước tôi có đến Đài Phát Thanh Huế thu âm lời chúc Tết gởi đồng bào nên tôi cùng mấy người bạn trở về nhà theo dõi các chương trình phát thanh Huế và Sàigòn. Giờ giao thừa tại Sàigòn sớm hơn Hà Nội một giờ, sau khi nghe đài Huế xong, tôi nghe đài Hà Nội. Hồ Chí Minh đọc một bài thơ như sau:
Xuân nay khác hẳn mấy Xuân qua,
Chiến thắng tin vui khắp nước nhà.
Cương quyết đánh tan xâm lược Mỹ,
Tiến lên, toàn thắng ắt về ta.
Hai chữ “Tiến Lên” được Hồ Chí Minh hét thật to Sau này tôi mới biết đó là lệnh tấn công của Hà Nội. Mặc dù lệnh hưu chiến đã được ban bố giữa hai bên lâm chiến, nhưng lực lượng an ninh trong làng tôi và các làng chung quanh vẫn cảnh giác đề phòng. Anh em nghĩa quân thôn Dương Lộc và số thanh niên, học sinh, công chức, quân nhân về phép đều có vũ khí nhẹ hoặc lựu đạn mang theo bên mình. Chúng tôi chia nhau canh gác ban đêm, anh em nghĩa quân đi tuần phòng quanh làng, nếu có động tĩnh gì thì thông báo cho nhau biết. Khoảng 2-3 giờ sáng thì nghe tiếng súng nổ hướng thị xã Quảng Trị. Sáng hôm sau, qua máy truyền tin, chúng tôi được biết Việt Cộng đã tấn công vào thị xã Quảng Trị sau giờ giao thừa và đã bị thất bại nặng nề vì chính quyền tỉnh có đề phòng trước. Quân ta đã đánh bật chúng ra khỏi thành phố ngay Sáng mồng một Tết Mậu Thân (30-01-1968), tất cả mọi người đến nhà thờ dâng lễ tạ ơn đầu năm. Trong lúc Cha Hộ cử hành thánh lễ thì anh em nghĩa quân của thôn canh gác bên ngoài rất cẩn thận. Lễ xong, mọi người tập họp ở trước sân nhà thờ để mừng năm mới. Vị đại diện Hội Đồng Giáo Xứ thay mặt mọi người nói vài lời chúc Tết Cha, tiếp theo đó, tôi cũng chúc Tết Cha và đồng bào. Sau lời đáp từ của Cha Chánh Xứ, chúng tôi đốt một tràng pháo mừng Xuân. Pháo này tôi mang từ Sàigòn ra vì ở quê tôi không có ai bán pháo. Chúng tôi mời Cha và anh em thanh niên chụp chung một tấm hình kỷ niệm. Đây là hình ảnh cuối cùng của ngài còn lưu lại cho bà con.
Tôi trở về nhà để tiếp khách đến thăm Tết, ai ai cũng bàn tán về tình hình an ninh trong ba ngày Tết. Chúng tôi chưa có chi tiết gì về trận đánh hôm qua tại thị xã Quảng Trị. Trong phạm vi quận Triệu Phong và các xã chưa có cuộc đụng độ nào xảy ra. Có tin cuộc hành quân truy kích địch đang tiếp tục chung quanh tỉnh lỵ Quảng Trị. Đến chiều, tôi đi thăm mấy nhà bà con họ hàng ở trong làng, tôi chưa dám đi ra khỏi làng và phải chờ xem tin tức tình hình an ninh ra sao đã. Trong làng tôi, từ 1945 đến nay chưa có người nào đi theo Cộng Sản, dân trong làng một lòng một dạ với nhau nên tôi rất yên tâm.

Việt Cộng xâm nhập thăm dò tình hình
Tối mồng một Tết Mậu Thân, tôi và Trung Úy Dương Dân Sĩ (1), thuộc Văn Phòng Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng về phép, và mấy người bà con đến tại nhà tôi. Chúng tôi có mấy cây súng và lựu đạn để tự vệ. Chúng tôi thức khuya, chơi cờ Domino và thay nhau canh gác bên ngoài. Quá nửa đêm, chúng tôi nghe một loạt súng AK nổ rất gần, mấy phút sau có một phát súng Colt 45 Chúng tôi vội tắt đèn và ai nấy cầm súng, lựu đạn bố trí chung quanh nhà. Chừng một hai giờ đồng hồ sau thì anh em nghĩa quân trong làng liên lạc đến hỏi xem có gì xảy ra không và cho biết anh em đang hoạt động bên ngoài khu vực tôi ở, mọi ngưoi đều bình yên. Chúng tôi vẫn thức canh phòng đợi trời sáng.
Đêm mồng một Tết Mậu Thân (30-01-1968) một toán đặc công Việt Cộng đã đột nhập vào làng nhưng không có một cuộc đụng độ nào vì anh em nghĩa quân di động, không có vị trí cố định nên chúng tìm không ra. Chúng đã vào nhà anh Dương Văn Đoàn, Phụ Tá An Ninh ấp, bắn một loạt AK, nhưng không trúng ai. Anh Đoàn liền tắt đèn và bò ra khỏi nhà, bắn trả một phát súng Colt 45 về hướng phát ra tiếng súng. Sau đó thấy im lặng không có động tĩnh gì. Sáng mồng hai Tết, mọi ngưoi trong làng bàn tán xôn xao. Bà con ở tỉnh về thăm cho biết: chiều 30 Tết, có lệnh cắm trại, quân đội và cảnh sát sẵn sàng chiến đấu, cấm không được đốt pháo Sau giờ giao thừa, Việt Cộng đột nhập thành phố và bắt đầu tấn công. Chúng bị bắn trả ngay tức khắc, trên khắp các cao ốc ở ngã tư đường đều có người ném lựu đạn và bắn xuống, xe thiết giáp từ trong thành chạy ra đuổi Việt Cộng trên đường phố. Xác chết đầy đường, đến sáng thì Việt Cộng rút lui và quân đội ta tiếp tục truy kích chúng cho đến chiều hôm sau, tức là chiều mồng một Tết, các nhà mới đốt pháo ăn mừng. Sáng mồng hai Tết, anh em đi tìm dấu vết, phát hiện có vết máu trên bờ cỏ cạnh lũy tre. Từ đó tìm dần ra ruộng và gặp một dấu đất mới. Đào lên thì thấy có một xác Việt Cộng bị trúng đạn ngay tim. Người chết chỉ mặc một quần đùi, cổ còn buộc một sợi giây, mình bọc trong một cái ponchot của lính Mỹ (loại bằng sợi nylon do Mỹ sản xuất thường thấy bán ở các chợ trời Sàigòn). Bọn chúng phá một cái lỗ xuyên qua bờ tre để chui vào và tránh các lối đi chính vì sợ gặp nghĩa quân của ta. Trước tình hình sôi động như thế, chúng tôi hô hào anh em trong làng chặt tre, rào làng để phòng thủ theo kiểu “ấp chiến lược”. Sau đó tôi cùng một số anh em lên tỉnh để xin tăng cường hỏa lực. Đại Tá Nguyễn Ấm, Tỉnh Trưởng Quảng Trị đã ra lệnh cho Tiểu Khu cấp cho anh em nhiều đạn được, lựu đạn, súng phóng lựu, hỏa tiễn chống Tank M.72, súng trung liên v.v Tôi được Đại Tá Tỉnh Trưởng cho biết có công điện của Quốc Hội yêu cầu Quân Đoàn I và các tỉnh liên lạc với các Dân Biểu địa phương mời về Sàigòn họp khẩn cấp.
Anh em mang vũ khí, đạn dược trở về làng ngay cho kịp trước khi trời tối. Còn tôi đi theo các Dân Biểu Nguyễn Văn Triển, Trương Đình Tư và Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu ra phi trưong Ái Tử lên máy bay vào Đà Nẵng gặp Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và sau đó vào Sàigòn.

Tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng tấn công làng Dương Lộc hôm 09-2-1968 (11 tháng Giêng Mậu Thân)
Sau khi Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị sau giờ giao thừa Tết Mậu Thân bị thất bại và bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa truy kích, chúng kéo về vùng quê và gia tăng áp lực, uy hiếp các xã ấp của ta. Qua đài Giải Phóng, chúng loan tin đã chiếm trọn thành phố Huế, thiết lập chính quyền Cộng Sản và cho ra đời Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thượng Tọa Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó Chủ Tịch. Tin tức đó được các đài BBC và VOA xác nhận làm cho tinh thần anh em nghĩa quân cũng như cán bộ và đồng bào trong vùng quê tôi rất căng thẳng.
Cách làng tôi một cánh đồng, anh em nghĩa quân làng Phú Tài bị áp lực của địch rất mạnh nên rút về tạm trú tại làng tôi. Anh em đã chọn ngôi nhà của tôi, một ngôi nhà xây bằng gạch kiên cố trên một địa thế đất cao, chung quanh có lũy tre bao bọc để làm vị trí cố thủ. Tất cả mười hai tay súng, họ đã đào hố cá nhân chung quanh vườn và sẵn sàng chiến đấu khi có địch đến.
Kể từ hôm mồng hai Tết, anh em nghĩa quân và thanh niên trong làng tôi đã chặt tre, rào làng, tăng cường kẽm gai làm chướng ngại vật, đào hố cá nhân và lập lại các đường liên lạc bí mật từ vườn nhà này qua vườn nhà khác, chỉ định những nơi cất giấu đạn dược và lựu đạn, gài mìn claymore tự động do anh em tự nghĩ ra cách dùng pin có nối giây điện ở xa, khi địch chạm vào giây thì mìn phát nổ v.v Những mật khẩu, mật hiệu đã được ban ra cho mọi người thi hành vào ban đêm khi hữu sự. Lực lượng nghĩa quân và thanh niên trong làng có khoảng chừng một Trung Đội với hỏa lực đặc biệt mạnh nhờ tiểu khu Quảng Trị tăng cường hôm mồng hai Tết vừa rồi cộng thêm tiểu đội nghĩa quân làng Phú Tài đến tăng cường. Anh em ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Cách đó chừng một cây số có đồn nghĩa quân xã Triệu Thuận với một Trung Đội trang bị khá chính quy và nghĩa quân các làng lân cận như Dương Lệ Văn, Dương Lệ Đông, Đại Lộc là những làng nổi tiếng chống Cộng từ 1945 đến nay. Khi hữu sự thì tiếp viện cho nhau.
Làng Dương Lộc ở trên một địa thế phòng thủ khá thuận lợi, trước mặt làng là một hồ rau muống có nước ăn thông với một nhánh của sông Thạch Hãn, hai đầu làng có hồ nước, phía sau làng có hào sâu bề ngang 5 mét, nước ăn thông với sông, mùa Tết luôn có nước bao bọc chung quanh làng. Trong làng có hai nhà thờ, một để kính các vị tử đạo năm 1885 thời Văn Thân, hiện còn di tích mồ chôn tập thể 2500 nạn nhân, hai là nơi sinh hoạt hằng ngày của con chiên, Linh Mục Lê Văn Hộ ở nơi đó. Thánh đường này được xây cất vào năm 1918 nằm chính giữa làng. Anh em nghĩa quân thường tập họp trước sân nhà thờ rồi mới phân tán đi các nơi trong làng. Địch muốn tiến vào làng, trước tiên phải vượt qua hồ nước rồi đến lũy tre làng. Cổng vào làng và các đường cấm, ban đêm cũng có gài mìn và lựu đạn, có cửa khóa lại chắc chắn.
Tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng đã chia làm ba cánh quân tiến vào làng. Chúng không vào bằng đường cái trước mặt mà đánh vào phía sau và hai bên hông. Cánh quân phía Đông tấn công vào vườn nhà tôi ở, chúng dùng dao, rựa chặt tre, mở đường. Anh em nghĩa quân Phú Tài đóng chốt ở đó đã chiến đấu rất hăng say. Việt Cộng đã dùng B.40, B.41 có sức công phá rất mạnh, bắn vào nhà dưới làm sụp đổ một bức tường. Nghĩa quân có người bị thương nên rút lui. Nhà của bác tôi bên cạnh, cũng xây gạch trong khu vườn cao có lũy tre bao bọc, nơi đây có một toán nghĩa quân do ông Dương Văn Liêm chỉ huy. Khi thấy Việt Cộng áp sát vào vườn nhà tôi, ông Liêm liền bắn một trái đạn M.72, loại hỏa tiễn chống xe tăng của Mỹ. Tiếng nổ lớn và cột khói bốc lên ngút trời ngay góc vườn nhà tôi khiến cho họng súng của Việt Cộng bên ngoài câm ngay. Chúng biết bên trong có hỏa lực mạnh và có lẽ chúng đã bị tổn thất nặng, nên chúng phải rút lui, tìm đường xâm nhập khác. Cạnh làng tôi về hướng Đông là làng Dương Lệ Văn có nghĩa quân hoạt động hai bên yểm trợ cho nhau nên Việt Cộng không thể xâm nhập qua hướng đó được. Chúng phải từ cánh đồng sau lưng làng tôi vào và đánh ngay vào nhà tôi cũng ở hướng Đông.
Hướng Bắc từ cánh đồng phía sau làng, Việt Cộng đã xâm nhập vào xóm giữa làng, và chúng cũng đã gặp ngay ổ trung liên của anh Hoàng và nhóm nghĩa quân phòng thủ ở đây. Chúng phải chuyển hướng qua vườn khác, nhưng đến đâu đều bị lựu đạn ném ra hoặc những loạt đạn từ gốc tre, bụi cây bắn ra. Anh em nghĩa quân di chuyển từ vườn này qua vườn khác theo các đường liên lạc bí mật khi hữu sự, họ ẩn núp dưới hào tre trong vườn, đã gây thiệt hại cho Việt Cộng rất nhiều. Sáng hôm sau, Việt Cộng đã vào nhà ông Dương Văn Hóa, con trai của ông là Dương Văn Cung mới 17 tuổi, xách súng chạy trốn ngoài vườn, chúng không thay. Trong khi đó, chú của Cung là Dương Văn Hiên không biết Việt Cộng đã vào nhà mình nên từ ngoài vườn, ông đã xách súng chạy dọc theo bờ ao và đã bị địch hạ sát. Cung chạy qua một bức vườn khác và phát hiện Việt Cộng đang tụ tập đồng bào tại nhà thầy giáo Nguyễn Văn Huỳnh để tuyên truyền. Cung ôm lựu đạn bò theo hồ cá trong vườn để tấn công chúng. Anh bị hai tên V.C núp ở bên ngoài phát hiện. Ngay khi anh vừa tung lựu đạn ra thì một loạt AK đã bắn xối xả vào người anh. Anh ngã gục trên bờ hồ và quả lựu đạn rơi xuống nước.
Từ hướng Tây giáp ranh làng An Lợi, lực lượng phòng thủ của ta hơi yếu nên Việt Cộng đã vào làng một cách dễ dàng. Chúng đột nhập vào nhà ông Nguyễn Cao Ơn, em Vọng, 17 tuổi, học sinh, con ông Ơn đang nằm trên trần nhà, nơi kho lúa hai tay cầm hai quả lựu đạn nếu bị phát hiện thì em sẽ tung lựu đạn. Mấy tên Việt Cộng vào nhà kêu gọi, nhưng không có ai trả lời. Một “chiến sĩ gái” mang AK chạy xuống bếp lục lạo. Hắn mở chạn đựng thức ăn, tìm được nồi thịt kho, bánh tét v.v Hắn đưa tay bốc ăn lia lịa. Ăn xong hắn đi ra cổng.
Vọng thay chúng đi rồi liền từ trần nhà trụt xuống, chạy ra đến giữa sân thì gặp một toán Việt Cộng đi ngang qua, chúng hô: “Đứng Lại! Đưa tay lên!”, nhưng Vọng đã vội giau hai quả lựu đạn sau lưng và lùi dần vào sau đống rơm. Bọn Việt Cộng không ngần ngại, chạy thẳng vào cổng. Từ sau đống rơm, Vọng tung một lượt cả hai quả lựu đạn đã mở chốt. Hai tiếng nổ cách nhau chỉ một vài giây, tất cả bọn Việt Cộng đó đều ngã gục tại chỗ. Vọng bèn chạy vào nhà, mở cửa sau chui qua vườn nhà bác Cửu Đông trốn mất.
Phong con bác Nguyễn Đường, một nghĩa quân rất trẻ và rất can đảm. Anh đã gài sẵn mìn claymore bên bờ ao. Khi thấy một toán Việt Cộng đang di chuyển vào đường hẽm, anh tìm cục pin để châm ngòi, nhưng pin không có trong túi. Anh bèn theo đường liên lạc chạy vào nhà cố Đoàn hỏi mượn cục pin. Sau đó anh chạy ngược trở lại vừa lúc bọn Việt Cộng đang đi tới, theo hàng một. Phong nối giây vào cục pin và cho mìn nổ. Toán Việt Cộng nằm lăn lóc trên đường hẽm cạnh vưon nhà ông Dương Văn Hoành, Dương Văn Đại, chết không sót một tên. Người nhà ông Hoành, ông Đại kể lại rằng về sau mỗi đêm ma qủy thường xuất hiện ở ngoài bờ ao kêu rên thảm thiết.
Việt Cộng vào nhà bác Nguyễn Cao Định, hai em Đạt và Anh mới 13, 14 tuổi, dáng người nhỏ bé, lợi dụng lúc Việt Cộng không để ý, Anh ném lựu đạn, Đạt cũng ném theo một quả nữa rồi cả hai bỏ chạy. Mấy tên Việt Cộng chết ngay giữa sân.
Khi Việt Cộng tiến vào làng, anh em nghĩa quân và thanh niên rút ra ngoài làng, chiếm lấy khu nghĩa địa để chiến đấu. Nghĩa quân xã Triệu Thuận do xã trưởng là Đoàn Quang Sum từ hướng làng Dương Lệ Đông kéo đến tiếp viện, họ đã dùng máy truyền tin liên lạc với nghĩa quân Dương Lộc ở khu nghĩa địa. Trong lúc đó, Đại Úy Lê Đình Chiếm (2), về nghỉ phép tại làng Đại Lộc cùng anh em nghĩa quân hai làng Đại Lộc và Dương Lệ Đông (xóm đạo) kéo đến tăng cường cho anh em tại khu nghĩa địa đang lập một phòng tuyến trước mặt làng Dương Lộc. Một số anh em còn kẹt lại trong làng chạy ra trước mặt làng, lội qua hồ rau muống để qua khu nghĩa địa. Anh em phía trước bắn yểm trợ để cho anh em trong làng chạy ra. Tất cả nghĩa quân và thanh niên đã ra khỏi làng hợp với nghĩa quân xã và các làng lân cận lên đến cả trăm ngưoi, hai bên đánh nhau giữa ban ngày. Việt Cộng không dám tấn công, chỉ dùng súng cối bắn vào khu vực của ta mà thôi. Từ xa chúng phát hiện cần anten nơi máy truyền tin của anh Lê Đình Chiếm và đã bắn súng cối vào đó. Phe ta liền hạ cần anten xuống và di chuyển qua nơi khác.

Linh Mục Lê Văn Hộ bị bắt, bị chôn sống
Lúc bấy giờ Việt Cộng đã chiếm được toàn làng, chúng vào từng nhà kiểm soát giấy tờ, đồ đạc, gom dân lại một nơi. Khi chúng vào nhà thờ, không thấy anh em nghĩa quân đâu vì họ đã kéo nhau đi hết rồi. Chúng gặp Linh Mục Lê Văn Hộ và hỏi:
– Anh làm gì ở đây?.
– Tôi là Linh Mục ở nhà thờ này.
– Bọn Ngụy trốn ở đâu hết?.
– Đây là nhà thờ Công Giáo, không phải đồn lính. Họ không ở đây.
– Chúng tôi mới thấy bọn chúng chạy vào đây!.
– Xin các ông cứ đi lục soát.
– Anh che chở cho bọn chúng phải không?.
– Bổn phận của tôi là lo việc đạo, tôi không biết công việc của họ.
– Anh ngoan cố, anh đi theo chúng tôi.
Chúng bắt Cha cởi bỏ áo nhà tu và chỉ còn bộ đồ bà ba ở bên trong. Chúng dẫn người đi và sau đó chúng đưa người đến sân nhà tôi.
Trong khi hai bên đánh nhau, mẹ tôi và chị em, con cháu trong nhà chạy ra núp ở dưới ao tre. Trời mùa Đông, ao ngập nước, mẹ tôi bị ướt lạnh chịu không nổi. Vừa dứt tiếng súng, mọi người liền mò vào nhà. Cháu Nguyễn Văn Tiếp, mới 13 tuổi, học sinh ở làng, thường ngày đến nhà thờ giúp lễ cho cha. Chúng hỏi em:
– Bọn Ngụy trốn ở đâu?.
– Tôi không biết.
Thoáng thấy có vật gì trong tay em Tiếp, chúng bảo:
– Đưa tay ra coi.
Tiếpmở tay ra, một vỏ đạn các-bin rơi xuống.
– Đạn này của ai?.
– Tôi lượm giữa sân.
– Bọn Ngụy trốn ở đâu? Hãy khai ra mau!.
– Họ chạy qua đây lâu rồi.
– Mi giấu súng đạn ở đâu?.
– Tôi không biết.
– Bắt nó đi.
Chị tôi chạy ra nắm lấy tay cháu Tiếp:
– Cháu còn nhỏ dại, không biết gì. Cháu thay vỏ đạn thì lượm chơi đó thôi. Xin các ông tha cho cháu.
– Không được.
Tên Việt Cộng gạt tay chị tôi ra và kéo cháu Tiếp đi theo chúng. Những người già cả, bọn đàn bà con nít còn lại giữa sân đứng ngơ ngác nhìn theo Cha Hộ và cháu Tiếp bị chúng dẫn đi. Chị tôi ngả lăn ra sân kêu gào thảm thiết:
– Con ơi! Con ơi!.
Cha của Tiếp đã bị Cộng Sản giết khi cháu mới chưa đầy một năm, bây gio đến lượt cháu bị chúng bắt đi!.
Khi Việt Cộng vào lục soát trong nhà tôi, chúng mở tủ, xáo tung giấy to sách vở, ảnh kỷ niệm của gia đình. Một “chiến sĩ gái” của “quân giải phóng”đã chạy vào buồng của chị tôi rất lâu Khi chúng đi rồi, chị tôi mới phát hiện ra một cái quần cũ, có vá mấy miếng của ai để lại và cái quần lãnh mới của chị tôi đã bay đâu mất rồi. “Chiến sĩ gái giải phóng” đó đã mặc quần lãnh mới của chị tôi đi ra mà không ai để ý.
Tối hôm đó anh em nghĩa quân và thanh niên không dám về làng, họ trốn qua làng khác, trong một đêm mà phải thay đổi chỗ ngủ mấy lần, khi ở nhà này, khi nhà khác. Cuối cùng mọi người chạy lên tỉnh. Tổng kết trận đánh trong làng có 4 người chết, ba người bị bắt đi trong đó có Cha Hộ. Bọn Việt Cộng đã mang xác đồng bọn đi hết, về sau có một tên cán binh Việt Cộng bị bắt và xin được hưởng chính sách chiêu hồi, cho biết:Tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng đánh vào Dương Lộc hôm 9 tháng 2-1968 (11 tháng giêng Mậu Thân) đã tổn thất 104 tên. Anh ta nói rằng: Việt Cộng sợ nhất là đụng độ với lính của Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1. Ngoài ra, chúng rất ngán nghĩa quân làng Dương Lộc. Chúng vào làng này như vào trong một trận đồ bát quái, trẻ già trai gái đều là thành phần chiến đấu giỏi, nhà nào cũng có súng, có lựu đạn, vườn nào, ngõ ngách nào cũng có người núp trong đó để bắn lén.
Từ mùa Xuân đến Hè năm 1968, quân đội Việt Nam Cộng Hòa lên tiếp mở các cuộc hành quân bình định, làng Dương Lộc đã xin Tiểu Khu Quảng Trị tăng cường quân số và hỏa lực để đóng đồn kiên cố. Tình hình an ninh được vãn hồi nhanh chóng cho đến mùa Hè 1972, khi tỉnh Quảng Trị bị quân Cộng Sản Bắc Việt chiếm đóng thì dân làng này đã bỏ hết nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên chạy vào miền Nam và không bao gio trở lại quê hương nữa.
Ngày 31 tháng 5 năm 1969, nhờ đồng bào địa phương mách bảo, bà con đã tìm được xác của Linh Mục Giuse Lê văn Hộ tại vùng biển Chợ Cạn, thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, vùng Việt Cộng chiếm đóng trong Tết Mậu Thân. Con cháu đã đem người về chôn tại quê nhà, làng Trí Bưu, xã Hải Trí, quận Mai Lĩnh (xưa là Hải Lăng), tỉnh Quảng Trị.

Bức hình chụp chung với Cha Hộ
Sáng mồng một Tết Mậu Thân, chúng tôi có chụp chung với Cha Hộ một bức hình kỷ niệm, trải qua hai biến cố 1972 (mất tỉnh Quảng Trị) và 1975 (mất miền Nam), các hình ảnh tài liệu chúng tôi cất giữ bị thất lạc rất nhiều. Năm 1994, trước khi rời Việt Nam ra đi, tôi đi thăm từ giã một số anh em bà con. Tình cờ có một ngưòi trao cho tôi bức hình năm xưa anh em chúng tôi chụp chung với Cha. Người giữ bức hình đó, hiện còn ở Việt Nam đã nói với tôi rằng: Tôi giữ hình này vì có Cha Hộ là người tôi rất thương mến. Nhưng trong hình này có một người mà tôi rất ngại vì Việt Cộng có thể gây khó khăn cho tôi vì tôi có liên hệ với người đó. Nhờ Cha Hộ che chở nên tấm hình này trải qua bao nhiêu năm vẫn còn. Hôm nay người đó sắp được thoát khỏi chế độ Cộng Sản rồi nên tôi hơi vững dạ một chút mà trao lại cho anh bức hình này. Anh nên mang qua Mỹ để sau này có lúc cần đến nó.
Tôi hiểu ý anh ta muốn ám chỉ tôi. Ngày hôm nay, khi viết về Cha Hộ, tôi đã liên lạc với con cháu của người đang sống rải rác khắp nơi trên đất Mỹ, nhưng không một ai còn giữ được hình ảnh của người. Đây là hình ảnh duy nhất về Linh Mục Lê Văn Hộ mà tôi còn giữ được. Tôi tin rằng đây cũng là một sự an bài của Thượng Đế, của Thiên Chúa và chắc chắn có sự trợ giúp của Cha Hộ.