XEM PHIM “CHIẾN TRANH VIỆT NAM-NHỮNG CHUYỆN CHƯA KỂ” CỦA NHÀ LÀM PHIM PHẠM VĂN NAM & ĐẠO DIỄN NGUYỄN ĐỨC (Hoàng Đình Khuê)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

https://www.facebook.com/taman.nguyen.130517CA/videos/1647228200055286

 

XEM PHIM “CHIẾN TRANH VIỆT NAM-NHỮNG CHUYỆN CHƯA KỂ” TỪ PHÍA MIỀN NAM: THỬ THÁCH, CHIẾN THẮNG & BI KỊCH

CỦA NHÀ LÀM PHIM PHẠM VĂN NAM & ĐẠO DIỄN NGUYỄN ĐỨC

(Hoàng Đình Khuê)

Đây là bộ phim về Chiến tranh Việt Nam do người Việt Nam thực hiện với sự hợp tác của Nhà sản xuất Phạm Văn Nam và Đạo diễn Nguyễn Đức.
Phim đươc thực hiện gần sáu năm do hai cá nhân tự nguyện với sự yểm trợ của các Mạnh thường quân. Phim kéo dài 1:37’38” nói về cuộc chiến Việt Nam trong giai đoạn 1945-1968. 
Bộ phim gồm 12 Chương và phỏng vấn 25 nhân vật.

Trong phần mở đầu, hậu duệ Quyên Ngô đã khai pháo: Vào ngày 17/9/2017,
PBS chiếu phim tài liệu “The VietNam War” dài 18 giờ do Ken Burn và Lynn Novick đạo diễn đã có nhiều phản ứng và ấn tượng khác nhau, nhưng vẫn còn một tiếng nói mà nhiều người vẫn đang thắc mắc, đó là tiếng nói của người Mỹ gốc Việt.
Còn tiếng nói của một hậu duệ khác là Steve Le cho rằng anh thất vọng vì quan niệm công bằng đáng lẻ phải có trong phim tài liệu.
Khi xem xong anh nghĩ rằng đây là cuộc chiến giữa Mỹ và Cộng sản Việt Nam trong khi thực tế đây là cuộc chiến giữa Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ trợ giúp và Việt Nam Cộng sản được Liên Xô và Trung cộng yểm trợ

Chương 1: Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Việt Nam dưới ách đô hộ của Thực dân Pháp từ 1885-1945.

Năm 1887, Pháp thành lập Đông Dương gồm 3 vùng lãnh thổ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Người Pháp tuyên bố họ có trách nhiệm giúp các nước kém phát triển ở Châu Á trở thành văn minh, nhưng thực tế chủ nghĩa Thực dân Pháp cần tài nguyên  nguyên liệu thô và lao động rẻ. Nhân dân Việt Nam gồm nhiều đảng phái chống lại Pháp. Thực dân Pháp xâm lược từ 1887 cho đến 1954 và rồi cũng phải ra đi.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Nhật đầu hàng và chấm dứt Đệ II Thế chiến, Hồ Chí Minh cướp chính quyền, thuyết phục Bảo Đại thoái vị.
Nhật trao trả chính quyền cho Việt Minh và Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa   

                       
(Đến đây “người viết” xin phép có vài bổ túc về diễn biến chính trị này:
Hàng năm, Đảng CS/VN luôn khoa trương và tổ chức ăn mừng 2 ngày:
– Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền Trần Trọng Kim.
– Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” tại Ba Đình/ Hà Nội.
Họ cho rằng họ có công lãnh đạo Dân tộc Việt Nam trong hai cuộc tranh đấu
chống ngoại xâm: – Đánh Pháp giành Độc lập.
– Đánh Mỹ thống nhất đất nước.
Nhưng trong suốt 80 năm từ 1945, đảng CS/VN đưa Dân tộc Việt Nam vào
hai cuộc chiến tranh thảm khốc, nhất là sau năm 1975, tình trạng phân hóa của Dân tộc vẫn còn trầm trọng.
Chúng ta nên nhận định một cách khách quan để xem công trạng đảng Cộng sản VN như thế nào?
Sau khi Đệ II Thế chiến chấm dứt năm 1945, các chế độ thuộc địa phải đến lúc cáo chung. Các nước Châu Á đều được trả Độc lập như Philippines, Ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương …
Riêng Việt Nam vẫn tranh đấu gian khổ cho đến năm 1954 thì bị chia đôi.
Hồ Chí Minh vẫn theo chủ nghĩa Marx, ca ngợi là con đường duy nhất đưa nhân loại đến con đường Tự do, Hòa bình, Hạnh phúc.
Sau này các Sử gia, tài liệu giải mật như Trần Huy Bích, Phạm Cao Dương cho rằng, cái gọi là “Cuộc Cách mạng Tháng 8 năm1945” là một hành động cướp chính quyền từ Chính phủ Trần Trọng Kim.

Và tiếp theo sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, tình hình Việt Nam có một khoảng trống (đây không phải “Decent Interval” của Nixon & Kissinger) mà là một khoảng cách bỏ ngõ (Open Interval) gồm:
– Người Pháp đã bị Nhật đảo chánh.
– Người Nhật đã đầu hàng Đồng Minh sau hai quả bom nguyên tử.
– Chính phủ Trần Trọng Kim gồm các nhà giáo, trí thức không có tham vọng chính
trị mà Luật sư Trần Thanh Hiệp cho rằng Họ không có khái niệm ideology chính trị,
họ chỉ có lòng yêu nước và yêu Tự do, Dân chủ thay vì độc tài.
– Vua Bảo Đại sẵn sàng thoái vị, tuyên bố:”Thà làm Dân một nước Độc lập hơn làm
Vua một nước nô lệ”

Chương 2: Cuộc di cư vĩ đại – Con đường tới Tự do.
 Việt Minh được sự hỗ trợ của Trung Cộng đánh bại quân Pháp ở Điện Biên Phủ

và kết thúc chiến tranh. Chính quyền Pháp tại Việt Nam từ chức.
Thủ tướng Pháp Pierre Mendes France chấp nhận để Pháp rút lui. Tại Hội nghị
Geneve ngày 21/71954, Chính phủ Pháp và Việt Minh ký một Hiệp định Sainteny
từ vĩ tuyến 17, chia Việt Nam thành hai miền: miền Bắc do Việt Minh cai trị,
miền Nam do Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu; quyết định này bị phía Quốc gia Việt Nam phản đối và Hoa Kỳ bác bỏ.
– Kiều Chinh (Tài tử Nam Việt Nam):
Gia đình tôi gồm Cha tôi, Anh tôii và cá nhân tôi, chúng tôi rời Hà Nội  nhưng khi đến phi trường, anh tôi bỏ gia đình và trốn ở lại Hà Nội.
Chúng tôi chờ cả ngày ở sân bay và rồi chúng tôi phải lên máy bay.
Cha tôi nắm tay tôi và đẩy tôi lên rồi nói: Cha ở lại tìm anh con và sẽ đi sau.
Câu nói cuối cùng: Can đảm lên, sẽ ổn thôi!
– Đỗ Như Điện: Tôi sanh ra ở Bắc Việt, Cha tôi chống lại chủ nghĩa Cộng sản và Cha tôi bị bộ đội Công an bắt vào tháng 9/1954 và thả ông vào tháng 2/1955. Đến 10 giờ tối, khoảng 20 người được tàu thủy chở đến Nam Định và sau đó chúng tôi đi xe bus về Hà Nội. Sau đó chúng tôi đi Hải Phòng bằng xe lửa và cuối tháng 3 gia đình chúng tôi chuyển từ trại tị nạn đến tàu Pháp ở Hạ Long và đi S                                                                                                                                                                                                                                              . Trần Thị Nguyên Nghĩa: Chồng tôi làm cho Pháp, chúng tôi chống Cộng sản. Theo thống kê, có hơn 1 triệu người từ Bắc di cư vào Nam, chỉ có 90,000 người từ Nam ra Bắc, có khoảng 10,000 người Việt Minh ở lại để nội tuyến.

Chương 3: Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa.
Năm 1954, Bảo Đại đề cử ông Ngô Đình Diệm chức Thủ Tướng trong Chính phủ mới ở Việt Nam.

Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ mới với Nội các 18 người và từ chối không để người Pháp vào nội các Chính phủ.
Goeffrey Shaw, nguyên là tác giả Canada “The Lost Mandare Heaven” (Thiên Mệnh đã mất) đã cho biết:
 “Sự quan tâm đến Việt Nam xuất phát từ một trò chơi, đó là tìm hiểu về quân đội, điều gì khiến họ thành công và thất bại. Vì vậy tôi muốn xem những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Khi tôi bắt đầu tập trung vào một lãnh vực quan trong năm 1963, điều mà tôi nghĩ Diệm là độc tài, bạo chúa và tham nhũng ở miền Nam Việt Nam vì sách vở nói như vậy, nhưng sau này tôi thấy rõ hơn.
Ồ, khoan đã! Làm sao một người thức đậy 6:30 giờ mỗi sáng đi nhà thờ, lại cho tiền bạc cá nhân của mình giúp các hội từ thiện lại độc tài tham nhũng?
Và khi đi sâu vào, tôi càng hiểu vào thời điểm đó, tất cả tài liệu bí mật được công bố ở Việt Nam đều là dối trá. Tất cả những điều nói về Diệm, tôi bắt đầu coi là mấu chốt trong lịch sử khi Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam.
Lê Trọng Quát (Dân biểu 1959-1963): Lúc tôi 15 tuổi, Bố tôi có nói ông Ngô Đình Diệm sẽ trở về lãnh đạo đất nước.
Vào năm 1959, tôi đắc cử vào Quốc hội – Ông Diệm là người yêu Tổ quốc, ông có tinh thần tôn trọng và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Ông bất đồng ý kiến với Hoa Kỳ vào năm 1962 khi Hoa Kỳ muốn đưa quân vào Nam Việt Nam.
Rufus Phillips (Nhân viên USAID): Dĩ nhiên tôi có tiếp xúc với ông Diệm.
Ấn tượng của tôi về ông là một người lớn tuổi của thời xa xưa, nhưng ông là một người yêu nước vĩ đại và cực kỳ can đảm. Không quá giỏi về tình hình chính trị như tình thế đòi hỏi, nhưng là người trung thực không bao giờ tham nhũng. Vì vậy ông đã cố gắng làm hết sức mình nhưng ông bị người Mỹ hiểu lầm và coi thường, điều này đã tạo ra nhiều mâu thuẫn giữa Mỹ và người miền Nam Việt Nam. Như vậy ông không phải là người độc tài, ông phải tranh đấu để bảo vệ miền Nam trong hoàn cảnh khó khăn. Ông bắt đầu gặp khó khăn với tình hình rối loạn, chẳng hạn Bình Xuyên đã kết hợp một số các giáo phái khác chống lại ông, nhưng nhờ sự can thiệp của một người mà tôi cùng làm việc là Landsdale nên chánh sách của Mỹ vẫn ủng hộ ông Diệm.
Họ đánh bại Bình Xuyên và các giáo phái khác, từ đó chính quyền của ông Diệm chánh thức lãnh đạo miền Nam. Ngày 7/3/1955 ông Ngô Đình Diệm tuyên bố sẽ tổ chức Trưng Cầu Dân Ý trên toàn quốc để bầu Tổng Thống.
Ba ngày sau ông đắc cử Tổng Thống và tuyên bố thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Trong khi Tổng Thống Diệm bị truyền thông phương Tây chỉ trích độc tài, nhưng bầu cử vẫn diễn ra tự do và thành công.
Trong khi đó chế độ Cộng sản Hà Nội cho đến ngày nay, người dân vẫn khao khát quyền tự do bầu cử.

Chương 4: Cải cách ruộng đất ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam.
Sau khi thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm theo đuổi một dự án xây dựng đất nước, thúc đẩy phát triển công nghiệp và nông thôn.
Để săn sóc những người di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954, chính phủ của ông đã sắp xếp chọn các Tỉnh có đất màu mỡ và ít dân ở phía Tây đồng bằng sông Cữu Long.
Trong khoảng thời gian từ 1955 đến 1960, miền Nam bắt đầu phát triển rất nhanh nhờ có một chính quyền lành mạnh.
Những người miền Bắc nghĩ rằng ông sẽ thất bại với nhiều gánh nặng nhất là sự rút lui của người Pháp và các cơ cấu tổ chức của họ. Nhưng chính phủ Diệm đã xây dựng làng mạc và các viên chức chính quyền đã mang lại dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản cho người dân.
Trong khi đó miền Bắc tiến hành diễn biến Cải cách ruộng đất vào năm 1950 với áp lực và đàn áp chủ đất lớn và nhỏ, đôi khi xác định nhầm là địa chủ.
 – Từ Thức (Nhà báo miền Nam): Gia đình tôi trước kia là địa chủ có vài mẫu ruộng
giúp cho kháng chiến rất nhiều, nhưng khi chiến tranh chấm dứt, ông anh cả của tôi
ở trong kháng chiến đã nói chúng ta phải đi mau mau.
 – Đỗ Thông Minh (Học giả): Khi phong trào đấu tranh chống Pháp, Ba tôi cũng là Việt Minh và tham gia nhiều vụ án. Ba tôi kể chuyện khi Hồ Chí Minh đi Nga thập niên 1900s, Staline đặt vấn đề Việt Nam đã thực hiện Cải cách ruộng đất chưa?
Hồ Chí Minh nói chưa làm. Staline mới nói có hai cái ghế, một dành cho địa chủ, một dành cho nông dân, đồng chí chọn cái nào? Hồ Chí Minh nói chọn cái ghế nông dân.
Staline nói, thế thì đồng chí phải về thi hành Cải cách ruộng đất ngay lập tức.
Trung quốc đã làm rồi, nền văn hóa hai nước giống nhau phải làm theo Trung quốc.
 – Cù Huy Hà Vũ: Trung cộng đã nói chúng ta phải tiêu diệt địa chủ và từ đó Hồ Chí Minh phải chịu một áp lực rất lớn vì nếu không nghe thì Trung cộng sẽ rút viện trợ và khi đó CSVN sẽ không đánh bại Pháp.
 – Trần Khải Thanh Thủy (Chiếu lại Phim “Chúng tôi muốn sống”):
Ở ngoài Bắc vụ xử Cải cách ruộng đất rất khắc nghiệt. Khi gia đình tôi bị đấu tố, ông ngoại tư tử, bà ngoại bị nhốt trong căn bếp tồi tàn của một nông dân và bị bỏ đói.
Bà đói quá nên xúc trộm cám heo và bị chủ nhà phát hiện, báo cảnh sát và họ đem cùm gỗ xích chân bà. Bà muốn đi tiểu nên cố lết đôi guốc gổ ra tận mép cống của chuồng heo, chẳng may bị ngã sấp và chết. Cộng sản bắt chủ nhà ra đấu tố và một cán bộ hỏi người dân xử ông ta như thế nào, một cán bộ nói xử tử, thế là ông chủ nhà bị xử tử.
Năm 2006, các nhà nghiên cứu kết luận có ít nhất 176,000 người đã thiệt mạng
trong vụ án Cải cách ruộng đất ở miền Bắc.

Chương 5: Công Đoàn.
Tài sản quan trọng nhất trong bất cứ quốc gia nào đang phát triền là lực lượng lao động. Các công đoàn ra đời từ thời Pháp thuộc và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở miền Nam Việt Nam.

Chúng tôi gặp một ông trong tổ chức Công đoàn Lao động của miền Nam sống ở Paris và ông giải thích về sự phát triển các Công đoàn Lao động ở miền Nam.
Nguyễn Văn Tánh (Phụ tá Công đoàn Lao động miền Nam) cho biết:
Trước đó tôi đã là một công nhân, một người thợ sắp chữ trong nhà in, là đoàn viên trong nghiệp đoàn công nhân ấn loát.
Sau quân dịch, tôi qua Pháp du học dự khóa huấn luyện của nghiệp đoàn Pháp là CFTC (Conference Francais Des Travailleurs Cre’tienes).
Sau giai đoạn học ở Pháp từ 1960-1963, tôi trở về Nam Việt Nam và Công đoàn giao cho phòng Pháp chế phụ trách công việc tranh chấp lao động cá nhân cũng như Nghiệp đoàn và đồng thời lo củng cố Nghiệp đoàn Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định với tư cách là Ủy viên Tuyên Huấn. Lúc đó Việt Nam đang là thuộc địa của Pháp và công nhân Việt Nam không được gia nhập Ngiệp đoàn, chỉ có những người quốc tịch Pháp mới được gia nhập. Lúc này một người ở Pháp về nước là ông Trần Quốc Bữu, người đầu tiên lập Hiệp Hội và tập trung tất cả Nghiệp đoàn làm việc trong các nhà máy, cho đến năm 1950 mới đổi Hiệp Hội thành Công Đoàn Lao Động Tư Nhân, tiền thân của Công Đoàn Việt Nam.
Đến ngày 1/5 /1950 là ngày Lao Động Quốc Tế, anh em không được tổ chức ngày này nhưng tập họp lại với nhau trong một Thánh Lễ ở Nhà Thờ, nhưng cũng bị đàn áp khi trên đường đến Nhà thờ. Trong thời gian này chúng tôi đòi hỏi phải có Luật Lao động, bảo hiểm và tất cả những gì người lao đông Việt Nam chưa có mà Pháp đã có với sự giúp đỡ của người Pháp hướng dẫn tranh đấu.
Lần đầu tiên tiếp xúc với Nghiệp đoàn phải qua huấn luyện và sau khi được huấn luyện, Tổng Thơ Ký Trần Quốc Quyền cho biết khi huấn luyện có một Công an ngồi kế bên, tức là khi huấn luyện mỗi công nhân có một công an theo dõi, nhưng khi bàn về quyền lợi công nhân thì phải tuân theo Luật Lao động. . Nếu nơi nào chưa có thì phải đòi cho có, ví dụ công nhân không có thì giờ nghỉ ngơi thì phải được nghỉ trưa.
Tất cả đều bàn cải công khai và Công an không bắt bớ gì cả.
Tổng Thống Diệm không chống Công đoàn, nhưng khi có đình công thì Công an mới xuất hiện. Thật vậy chính quyền tôn trọng Ngiệp đoàn vì Nghiệp đoàn là thành phần đóng góp cho việc phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong khi Công đoàn hoạt động công khai thì Cộng sản ẩn trốn ở miền Nam trà trộn vào Nghiệp Đoàn để đánh phá.
Trong một buổi tiếp tân, Tổng Thống Diệm có hỏi Chủ tịch Nghiệp đoàn có biết Cộng sản trà trộn không thì ông chủ tịch trả lời: Có biết.
Cho nên mỗi khi có cuộc đình công thì mình biết có người xách động đưa ra những đòi hỏi không hợp lý.

Chương 6: Ấp Chiến Lược
Năm 1962 Tổng Thống Ngô Đình Diệm thiết lập chương trình Ấp Chiến Lược,

người dân nông thôn sẽ được bảo vệ, hỗ trợ kinh tế và viện trợ, qua đó tăng cường quan hệ với nhân dân miền Nam
– Rufus Phillips: Tôi là một Thiếu úy mới ra trường 1 năm và được gởi đến Việt Nam để làm việc dưới quyền của Landsdale trong phái bộ quân sự Sài Gòn, một cơ quan được CIA hỗ trợ. Vì vậy tôi chính thức tham gia trực tiếp làm việc chung với quân đội Việt Nam, chiếm đóng những khu vực mà quân Bắc Việt đã chiếm đóng trong 9 năm và sau đó họ đã di tản về Bắc. Ví thế chúng tôi gặp nhiều vấn đề khi tái lập chính quyền ở đó.
Tôi phải làm việc với người Việt ngay từ ngày đầu, và sau đó năm 1962 tôi được thực tâp một cuộc khảo sát chống nổi loạn. Ban ngày tôi ra ngoài học rồi tối trở về, họ áp dụng tất cả khuyến nghị và tôi trở thành Trợ lý Giám đốc với trách nhiệm chống nổi loạn, tức là hỗ trợ cho chương trình Ấp Chiến Lược. Tổng Thống Diệm đưa ra ý tưởng bảo vệ làng mạc là khái niệm nông trại, nơi tập trung nhiều nông dân lại với nhau, nhưng những khu nông trại này quá rộng lớn nên việc phòng thủ rất khó khăn.
Vì vậy bọn Cộng sản và bọn sát nhân có thể lẻn vào ban đêm. Và hãy nói về Ấp Chiến Lược, vì mục đích chính là bảo vệ dân làng khỏi bị CS Bắc Việt lẻn vào ban đêm và điều này có kết quả tốt.
 – Hoàng Châu (Sỉ quan VNCH):
Sau năm 1960 -1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra một kế hoạch lập Ấp Chiến Lược. Thật là may mắn, vì chính tôi lúc 11 tuổi đã giúp gia đình xây bức tường đó.

Gia đình tôi đã xây Ấp Chiến Lược trong 30 tháng. Những ngày weekend không đi học thì tôi lại giúp cha mẹ xây trong vòng 3 tháng.
Tôi hy vọng Ấp Chiến Lược của Tổng Thống Diệm rất hữu ích ngăn chặn CS vào thành phố. Đó là những gì mà chúng tôi ao ước. Nếu CS không vào thành phố thì chúng tôi có 3 năm yên ổn, ăn ngủ ngon lành. Đó là cái mà tôi nghĩ Ấp Chiến Lược rất quan trọng và coi như cắt đứt Việt Cộng xâm nhập vào làng để bắt những thanh niên như chúng tôi đi theo họ hoặc họ vào thành phố đi tìm thực phẩm, tìm kiếm thuốc men, gia dụng để giúp CS sống ngoài vòng pháp luât .
Cùng với việc hành quyết và đe dọa các viên chức Ấp, lực lương Việt Cộng chống Ấp Chiến Lược qua một chiến dịch tuyên truyền dữ dội bằng những lá phiếu hoặc sự xâm nhập sâu vào nền Cộng Hòa mới.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một đảng viên CS Bắc Việt, người giám sát Ấp Chiến Lược ở miền Nam Việt Nam.
Ông cho xây những ngôi làng ở khu vực có nhiều Việt Cộng và buộc chương trình phải xây nhanh chóng, gây ra tình trạng những ngôi làng trang bị và phòng thủ kém.
Do đó du kích dễ phá hoại và xâm nhập dễ dàng.   
 – Đại tá Nguyễn Quan Vinh (Lực lượng Đặc Biệt) :
Trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, LLĐB giúp Ấp Chiến Lược rất nhiều . Chương trình  rất hay và có hiệu quả. Chỉ tiếc là LLĐB không có khả năng hỗ trợ lâu dài.

Mục tiêu của chúng tôi là đến để huấn luyện những cán bộ chống Cộng giỏi, nhưng rất tiếc mình không đủ nhân sự để bảo vệ họ, thành ra những người đó sau này bị Việt Cộng loại trừ rất nhiều. Đó là khuyết điểm của kế hoạch hay mà không bảo vệ được.

Chương 7: Chủ nghĩa Khủng bố chọn lọc của Cộng sản.
– Phạm Văn Nam (Sản xuất phim): Tôi là Phạm Văn Nam con trưởng đầu lòng, là một thanh niên Việt Nam. Bố mẹ tôi chạy trốn Cộng sản từ miền Bắc Việt Nam vào năm 1955. Tôi sinh ra ở một đồn điền cao su trong một lành nhỏ, sau này chúng tôi mới biết đó một địa điểm của Chiến Khu D.

Cha tôi là người tổ chức nghiệp đoàn giúp đỡ những đồn điền cao su cải thiện cuộc sống của công nhân.
Lúc còn nhỏ nhưng tôi vẫn nhớ rõ Cha tôi là một cán bộ Nghiệp đoàn hầu như không thể ngủ một chỗ trong hai đêm liên tiếp vì Việt Cộng luôn rình bắt.

  Năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đảng CSVN đã ban hành Nghị Quyết số 4 nêu rõ kế hoạch thống nhất toàn bộ Việt Nam dưới sự kiểm soát của họ.
Sau đó năm 1953 họ kêu gọi kháng chiến vũ trang chống lại chính quyền Việt Nam mới do Tông Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo như đã nêu trong Nghị Quyết 13.
Sau khi chịu nhiều thất bại, lực lượng Cộng sản đã thay đổi cách tiếp cận và vào năm 1959, Hà Nội ban hành Nghị Quyết 15.
Đây là Nghị Định chính thức đầu tiên của giới lãnh đạo Bắc Việt thông qua một chiến lược toàn diện nhằm mục tiêu tiêu diệt binh lính và quan chức miền Nam Việt Nam. Khủng bố trở thành chánh sách chính thức của lực lương Hồ Chính Minh.
 – Goeffrey Shaw: Họ gọi sự phá hủy thực chất là chiến dịch khủng bố – nhằm khủng bố các ngôi làng hẻo lánh của chính phủ và họ xâm nhập làm những điều rất kinh khủng. Điển hình chúng tìm một viên chức chính phủ trong làng, giết chết những đứa con trước, hảm hiếp vợ ông ta rồi giết chết bà ta và việc này thực hiện vào ban đêm khi không có Cảnh sát hay bất kỳ một ai và rồi họ giết ông ta một cách dã man, moi ruột ông ta và thông điệp này được công bố đến toàn thể dân làng: “Nếu tham gia với chính phủ sẽ xảy đến cho bạn bất cứ lúc nào”.
Và họ gọi những người Cộng sản là chủ nghĩa khủng bố qua phân tích khoa học, giống như một tên cướp không biết tấn công lúc nào và điều đó có tác dụng tối đa.
 – Hoàng Châu (Sĩ quan QLVNCH): Chúng tôi còn rất trẻ, rất gian nan trong suốt cuộc chiến cùng với những người Cộng sản bắt đầu xâm nhập vào làng xóm tạo ra những nỗi sợ kinh hoàng khi chúng giết người, cũng như chúng tôi rất vất vả để trốn thoát, để khỏi bị họ khuyến dụ hay bắt bớ bắt buộc đi theo họ.
Hai cái chết mà chúng tôi chứng kiến tận mắt vào năm 1961, 1962:
 – Một buổi sáng tôi nghe cái tin ông Trưởng Ấp của chúng tôi bị xử tử sau cánh đồng sau nhà. Câu chuyện như sau, tôi và người bạn tìm đến nơi mà ông Trưởng Ấp chết, còn đọng một vũng máu. Tôi đứng tại chỗ hồi tưởng lại câu chuyện mà hồi sáng tôi nghe họ kể. Tôi có cảm giác không biết Việt cộng là người hay là ai?
Riêng cá nhân tôi, tôi thấy ông Trưởng Ấp không làm gì xấu xa trong Ấp mà họ lại giết ông ta, xử ông ta có tội với nhân dân. Tôi thật sự không hiểu vì lúc đó tôi mới 10, 11 tuổi. Tại sao ông lại bị kết án như vậy?
Chính vì thế mà từ đó tôi có cảm giác người Cộng sản không bao giờ tốt, bởi vì họ giết người rồi trốn, người đó bị kết án vì tội gì, chính vì thế mà tôi tin rằng chế độ Cộng sản không thích hợp với những người có lòng nhân bản như chúng tôi ở miền Nam.
 – Phạm Văn Nam: Tôi nhớ khi tôi còn là đứa trẻ 6 tuổi đang học lớp 1. Hầu như mỗi buổi sáng tôi đều đi bộ từ nhà đến trường Tiểu học. Đi được vài dặm tôi dừng lại chỗ chợ chính của làng, nhìn xác chết của những người hàng xóm đã bị bắt cóc và bị giết chết trong đêm. Họ giết những người đó và ném xác bên vệ đường. Những người lính VNCH đi thu thập thân thể để người thân đến nhận và chôn cất tử tế.
Đội khủng bố CS đã thực hiện 36,000 vụ giết người và 58,000 vụ bắt cóc từ 1967 đến 1972; 80% trong số đó là thường dân.
Việc khủng bố của Việt cộng ít được các báo phương Tây biết đến.

Chương 8 (Vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm)
 – Joeffrey Shaw: Đến năm 1963 bạo lực và hỗn loạn bắt đầu gia tăng ở miền Nam Việt Nam, các cuộc biểu tình ở Sài Gòn khiến Washington lo lắng.

Sự phản đối của Tổng Thống Diệm đối với hiện diện quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam đã khiến ông rơi vào tình thế xa lánh với Hoa Kỳ.
Ông Averelle Harriman đến Hoa Kỳ như một món quà vì ông đã trường thành sau nhiều năm điều hành chánh sách kinh tế mới và xuất thân từ một gia đình danh giá. Tổng Thống Kennedy cảm thấy nợ ông ta khi thắng cuộc bầu cử và cảm thấy bị ông ta đe dọa. Ông ấy đến Bộ Ngoại giao khi ông đã về hưu nhưng vẫn được điều hành công việc. Một trong những cuộc họp quan trọng tại Tòa Bạch Ốc nơi Harriman và Nolting có mặt. Harriman công khai tỏ thái độ thù địch với Nolting là Đại sứ tại Việt Nam . Tổng Thống Kennedy hỏi Đại sứ Nolting ông nghĩ gì về những điều đang diễn ra ở Sài Gòn. Nolting bắt đầu nói, chúng ta đã có một người ổn rồi đừng ngáng chân ông ấy, ông ấy biết cách lãnh đạo và làm việc tốt cho ông Diệm. Ông ấy không phải là người của chúng ta. Ông ấy là người tốt.
Harriman ngay lập tức lên tiếng ngắt lời và nói: Ai bảo anh ăn nói thô lỗ như vậy và ngay sau đó Kennedy phải nói rằng: Khi mọi chuyện trở nên căng thẳng, ngay cả Kennedy cũng bắt đầu lùi bước; vì Kennedy rất nhạy bén với vấn đề, chính bản thân ông ta là một Tổng Thống Công giáo và Harriman cùng những người khác hay nhắc nhở – Ồ mình không nói điều này nữa! Công giáo giống như một bè phái. Nếu để ông ấy ở Việt Nam thì bè phái Công giáo sẽ làm tổn thương những người đạo Phật.
 – Thích Quảng Thanh: Lúc bấy giờ Phật giáo chỉ đòi quyền bình đẳng, nhưng mà cuộc chống đối leo thang vì một bên đòi hỏi một bên không đáp ứng, và vì thế xảy  ra không biết bao nhiêu lủng củng và sự chống đối càng gia tăng và chính nó đưa đến vụ tư thiêu (Thích Quảng Đức).
Từ đó mới xảy ra vụ đảo chánh, nhưng mà tôi khẳng định trước ống kính truyền hình, nếu người Mỹ không dính líu vô vụ lật đổ ông Diệm thì Phật giáo không có quyền lực gì lật đổ ông Diệm ngoại trừ chính phủ Mỹ, đó là điều khẳng định của tôi.
Vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, các Tướng lãnh lãnh đạo quốc gia đã tiến hành một cuộc đảo chánh với sự hỗ trợ của cơ quan Tình báo Trung Ương.
Tổng Thống Diệm và em trai ban đầu đã trốn thoát nhưng đã bị bắt lại ngày hôm sau và bị ám sát. Ông Henry Cabot Lodge người thay thế Nolting làm Đại sứ tại Việt Nam và là người thực sự thúc đẩy hoặc giúp thúc đầy cuộc đảo chánh quân sự chống lại ông Diệm.
– Rufus Phillips: Trưa ngày mồng 1, Ông ta nhận được một bức điện từ Bộ Ngoại giao, trong đó ông cần nói chuyện với ông Diệm về việc loại bỏ ông Nhu hoặc là nói chuyện với các Tướng lãnh. Ông ta bắt đầu nói chuyện với Tướng lãnh và đó là khởi hành cho một quá trình ủng hộ đảo chánh.
– Nguyễn Quan Vinh: Nói về cuộc đảo chánh năm 1963, riêng tôi cũng dính líu vào cuộc đảo chánh mà không ngờ.
Trưa ngày 1/11/1963, tôi được lịnh về trình diện Bộ Tư lệnh, trình diện ông Lê Văn Tung, Tư lệnh LLĐB.
Ngày 1/11/1963, ông Lê Văn Tung lại gắn huy chương cho tôi sáng hôm đó, rồi ông sang họp ở Bộ Tổng Tham Mưu và bị bắt luôn.
Đêm hôm đó tôi đưa LLĐB vào Tổng Thống phủ theo đườnh Hồng Thập Tự vào Tao Đàn và tôi dàn quân vào trong đó. Dàn quân xong tôi gâp Tướng Lạc và hỏi Cụ Ngô Đình Diệm đâu rồi? Tướng Lạc trả lời Tổng Thống đi nơi khác không có ở đây, Em thử đi kiếm ở Dinh Gia Long xem sao. Chúng tôi sang Dinh Gia Long kiếm không thấy thành ra chịu thua. Nếu như hôm đó tìm thấy Tổng Thống Diệm, chúng tôi đưa ra ngoài các căn cứ LLĐB thì tình hình đổi khác.
Vào ngày 2 tháng 11 năm 1992, 9 năm sau vụ ám sát, Tổng Thống Ngô Đình Diệm được nhân dân miền Nam tổ chức một Quốc Tang.
 – 21 ngày sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, Tổng Thống Kennedy bị bắn chết ở Dallas-Texas.
Sau khi nghe Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, Hồ Chí Minh nói: Tôi khó tin người Mỹ ngu ngốc như vậy!
Nên nhớ tháng 10/1963, Tổng Thống Diệm mời LHQ đến thăm Việt Nam để điều tra việc cáo buộc chính phủ của ông đàn áp người Phật tử. Vào tháng 4 /1964, 6 tháng sau khi ông bị ám sát, LHQ tuyên bố điều tra không thấy sự phân biệt Tôn giáo hay Phật giáo bị áp bức ở miền Nam Việt Nam.

Chương 9: Vịnh Bắc Bộ (Gulf of Tonkin)
Vào ngày 2/8/1964, khi lực lượng  Hoa Kỳ đang tiến hành các hoạt động bí mật thì xảy ra một cuộc tấn công từ Bắc Việt. Ba tàu phóng ngư lôi của Hải quân Bắc Việt
thuộc Phi đội Phóng Lôi 135 tiến đến gần tàu Maddox, tàu US Maddox  bắn cảnh cáo, các tàu của Bắc Việt tấn công bằng thủy lôi và súng máy.
Trước nủa đêm ngày 4/8/1964, Tổng Thống Johnson ngắt chương trình truyền hình quốc gia để đưa ra một Thông báo: “Đồng bào của tôi, Johnson ra lệnh chống lại Hải quân Bắc Việt. Ông yêu cầu Quốc hội cho quyền sử dụng lực lượng và nói rằng
Mỹ muốn tấn công kế tiếp để bảo vệ binh lính, danh dự và cam kết gìn giữ hòa bình và an ninh Đông Nam Á
– Bùi Diễm: Đó là vào năm 1964 khi tôi đến Hoa Kỳ lần đầu với tư cách một nhà báo nhưng chưa phải là nhà ngoại giao. Vì vậy tôi đã chứng kiến phần đầu của sự can thiệp của Hoa Kỳ vảo miền Nam Việt Nam, bởi vì khi đó chúng tôi chứng kiến cái mà chúng tôi gọi là Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ 1964. Kết quả của sự cố này làm Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ trao cho Tổng Thống Johnson nhiều quyền hạn tiến hành hoạt động quân sự mà không cần tuyên chiến thực  sự.
Nghị quyết được thông qua đồng nhất tại Hạ viện và chỉ bị phản đối bởi hai thành viên Thượng viện. Với tư cách là một nhà báo tôi đã có mặt tại Quốc hội và chứng kiến cuộc bỏ phiếu này về Quyết định Vịnh Bắc Bộ.
Vào ngày 8/3/1965, 13,500 lính TQLC Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng và làn sóng đầu tiên của quân đội chiến đấu Hoa Kỳ tiến vào miền Nam Việt Nam.
Đây chính là sự khởi đầu thực sự của Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam.
Việc chính phủ Hoa Kỳ đưa lực lượng Bộ binh  không có tham khảo ý kiến của chính quyền Nam Việt Nam tới Đà Nẵng. Đây là quyết định của người Mỹ thông qua chính sách ngăn chặn mang tính đơn phương quyết đinh của Hoa Kỳ.
– Vũ Thư Hiên: Theo tôi nghĩ nếu có một giải  pháp khác thì tiện rất nhiều cho miền Nam Việt Nam chống lại sự xâm nhập của miền Bắc, không nên đưa quân vào vì như thế sẽ làm mất đi chính nghĩa của một quốc gia và đã làm cho nước Mỹ bị thiệt hại quá nhiều.

Chương 10: Đệ Nhị Cộng Hòa.
Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm qua đời, Nam Việt Nam trải qua một giai đoạn tái thiết cơ cấu chính quyền. Sau một thời gian các nhà lãnh đạo quân sự nắm quyền kiểm soát. Hội đồng Lập hiến bầu lên và quyết định thay đổi hệ thống chính quyền của quốc gia. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng và Quân đội chọn Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử Tổng Thống và ông Kỳ là ứng cử viên Phó Tông Thống cho bầu cử năm 1967.

Mặc dù Việt cộng tiếp tục đánh phá, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ vẫn đắc cử ngày 3/9/1967. Trong khi thuật ngữ gian lận thường được truyền thông phương Tây sử dụng để mô tả các cuộc bầu cử ở miền Nam Việt Nam và giai đoạn mới của Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn bắt đầu.
– Trần Văn Thung (Chính trị gia miền Nam):
Bầu cử! Tôi có thể nói rõ ràng như tôi chứng kiến ở miền Nam, tất cả các phòng phiếu không thể hoàn hảo được, bởi vì Việt Nam còn non trẻ không có kinh nghiệm dân chủ, nhưng mà khá tốt vì dân chúng có thể điền tên bất cứ ai có trong danh sách và bỏ vào thùng phiếu không có sự ràng buộc. Tôi xuất phát từ nhà quê

và dĩ nhiên đối với chính quyền người nhà quê vẫn thiệt thòi hơn người thành phố.
Cho nên tôi mới đứng về phía dân quê để đòi hỏi và tranh đấu một số quyền lợi cho họ. Đó là lý do thúc đẩy tôi hoạt đông chính trị và đối lập vì tôi thích đối lập, thích sửa đổi những điều sai của chính quyền cho tốt hơn.
Khi là Dân biều tôi không e ngại trình bày quan điểm của mình vì tại miền Nam lúc đó không so sánh dân chủ với Hoa Kỳ và các nước Tây phương.
Tổng Bí Thư đảng CSVN Tô Lâm từng nói rằng Sài Gòn vào những năm 1960 là hòn ngọc sáng của Đông Nam Á, vượt qua hơn cả Singapore lúc bấy giờ.

Chương 11: Đường mòn Hồ Chí Minh.
Vào tháng giêng năm 1969, đảng CSVN chấp nhận chiến tranh nhân dân ở miền Nam Việt Nam. Nhóm 559, một đơn vị vận tải và hậu cần được thành lập để duy trì và nâng cấp đường mòn Hồ Chí Minh hầu chuyển quân, vũ khí và vật dụng từ Bắc vào Nam Việt Nam để yểm trợ miền Bắc. Hà Nội khai thác lãnh thổ của các nước láng giềng, vi phạm Hiệp ước quốc tế, bảo đảm tính trung lập của một quốc gia.

Bất chấp hội nghị Geneve 1954 thiết lập sự trung lập của nước Lào, Quân đội Nhân Dân Việt Nam vẫ duy trì hoạt động ở Lào.
Tương tự như vậy vào năm 1962, Hiệp Định Quốc Tế về tính trung lập của Lào đã được ký kết, cam kêt rằng các bên ký tên tôn trọng chù quyến và tính trung lập của Lào. Tuy nhiên Bắc Việt Nam vẫn tiếp tục hoạt động quân sự tại Lào, hủy hoại các cam kết quốc tế này. Tại Campuchia, quân đội Bắc Việt đã chiếm đóng những khu vực chiến lược như vùng biên giới Mõ Vẹt, vi phạm trắng trợn nguyên tắc trung lập của Campuchia. Đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua Lào, Campuchia vào Nam Việt Nam.
Campuchia và Lào là nơi trú ẩn an toàn cho quân đội Bắc Việt nghỉ ngơi và chờ tiếp tế.
– Phạm Thanh Quang (LLĐB Nam VN): Tôi gia nhập Lôi Hổ năm 1967. Những chuyến công tác đầu tiên là xâm nhập Đường mòn Hồ Chí Minh. Vùng hoạt động của chúng tôi là Quảng Bình và điểm chính yếu là nằm ở Hải cảng Vinh, là nơi tập kết của Việt Công trước khi vào Nam. Trách nhiệm của chúng tôi là quan sát lưc lượng Bắc Việt xâm nhập bằng phương tiện gì và bằng cách nào và khi họ đi qua Đường mòn Hồ Chí Minh họ cải trang như thế nao?
Mới đầu khi họ vào trong Vinh, họ đi rất hùng hậu và ăn mặc theo chính qui Bắc Việt, nhưng khi gần đến Đông Hà và từ Đồng Hới đi vào thì họ bắt đầu thay đồ giống như Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, mặc đồ bà ba đen xâm nhập vào Nam.
Không những như vậy mà phía Tây dãy Trường Sơn, Tàu cộng đem xe xây dựng những con đường ở bên kia núi. Chính mắt tôi trông thấy người Cuba, Liên Xô và Tàu cộng rất nhiều, họ yểm trợ xây con đường và Công binh Cuba làm việc tại đó.
– Phạm Anh Dũng (Pilot Nam VN): Ngày 27/2/1965, tôi gia nhập Không quân VN và được đưa ra Nha Trang huấn luyện. Sau đó tôi được gởi đến Hoa Kỳ tiếp tục huấn luyện. Khi về nước tôi gia nhập Phi đòan trực thăng 213 ở Đà Nẳng và tôi bị bắn rơi hai lần. Khi tôi bị bắn rơi và lánh nạn ở một căn cứ mà họ gọi là Hỏa lực số 31, ở đó 3 ngày. Không ai có thể đến vớt chúng tôi vì tình hình rất nghiêm trọng.
Xung quanh căn cứ tôi thấy có nhiều xe tank Bắc Việt khoảng 100 chiếc. Cuối cùng tôi bị bắt cùng với những tù binh khác. Họ không giết chúng tôi và di chuyển tất cả tù binh sang một ngọn đồi khác ngay lập tức. Chúng tôi được dẫn đi bộ trên con đương mà họ gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh, nhưng thực ra không phải là con đường mòn, mà là hệ thống đường cao tốc, mấy xe tải có thể qua được.
Trong suốt 7 ngày đi bộ qua dãy núi cao, thung lủng sâu, băng qua những đường mòn, xa lộ, chúng tôi đã thu thập rất nhiều thứ.

Chương 12 (Giành lấy thất bại từ sự chiến thắng):
– Đoàn Hòa (Thiếu tá Bộ đội Bắc Việt)
Về giào dục ở miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của CSVN, họ nhắm vào hai điểm:

 – Điểm 1: Nâng cao uy tín của ông Hồ, mọi người coi ông là lãnh đạo duy nhất và mãi mãi của dân tộc Viêt Nam.
 – Điểm 2: Ngay cả học sinh còn nhỏ, người ta đã nhồi nhét vào đầu lòng hận thù.
Tôi nhớ khi tôi học lớp 1, nói về vụ thảm sát ở Phú Lợi, người ta tổ chức rất lớn. Chúng tôi phải đứng ngoài trời meeting để phản đối, tạo trong tư duy học sinh sự căm thù của chế độ Cộng sản miền Bắc đối với chế độ miền Nam Cộng hòa

– Vũ Thư Hiên: Vụ tấn công chiếm miền Nam có từ lúc Lê Duẩn còn ở Nam Việt Nam, đã chôn vũ khí, cài người, đủ mọi thứ, các chủ trương đã chỉ thị nhất quán và
đã quyết định từ năm 1954.
Sau Hòa đàm Paris, người ta đã chôn vũ khí để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh lâu dài, người ta đã chủ trương từ lâu và việc đánh chiếm miền Nam bắt đầu từ năm 1954. Vào cuối tháng Giêng 1968, Sài Gòn tràn ngập không khí Lễ hội khi mọi người chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán. Đối với Vịêt Nam, Tết vừa là niềm vui mà cũng là thời điểm thiêng liêng của dân tộc.
Đây là mùa Xuân đầu tiên của Đệ Nhị Cộng Hòa. Hiệp định đình chiến do CS Bắc Việt đề nghị, hứa hẹn người dân sẽ có thời gian vui tươi đón mừng Năm Mới.
Theo tập tục mọi người xum họp đón mừng Giao thừa, gia đình cầu nguyện trước bàn thờ Tổ Tiên, cầu nguyện cho Hòa bình và dất nước Độc lập.
Nhưng không ngờ Pháo hoa truyền thống trong dịp Tết lại trờ thành Pháo Hoa chiến tranh. Việt Cộng lợi dụng lúc đốt pháo Giao thừa, đã phát huy cuộc tấn công dữ dội vào Sài Gòn và các Tỉnh thành trên toàn cõi miền Nam, họ đã vi phạm lệnh ngưng bắn mà chính họ đã đề nghị. Nhiều người hoảng sợ bỏ chạy, và là nạn nhân dưới hỏa lực địch. Việt Cộng bắt nhiều thường dân ở ngoại ô để làm con tin trên đường tẩu thoát và sau đó sát hại. Sau này những thi thể tìm thấy trong tình trạng phân hủy và co rút lại, bằng chứng cho thấy nạn nhân bị tra tấn dã man trước khi bị chôn vùi dưới cát. Những sự kiện này không được truyền thông Tây phương đề cập đến,
nhưng hình ảnh Đại tá Nguyễn Ngọc Loan của Nam Việt Nam hành quyết tên Việt cộng Bảy Lốp đã có hành vi dã man tàn sát cả gia đình thường dân lại được quảng bá.

Nhưng điều xúc động nhất mà tôi ghi nhận và hận thù Cộng sản đã giết hại cả gia đình của Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn, một cấp Tướng Mỹ gốc Việt.
Chúng ta hãy nghe tâm tư của Phó Đề Đốc Từ Huấn: ”Khi còn nhỏ tôi đã chứng kiến Việt Cộng sát hại cả gia đình tôi. Cha tôi đã bị CS sát hại, Mẹ và Anh Chị Em của tôi
không phải là người tham gia trận chiến đã bị quân phiến loạn hành quyết tàn nhẫn vào năm 1968. Tôi không biết mình diễn đạt có đúng không vì nó vẫn chưa nguôi trong trí nhớ của tôi. Hàng năm khi Tết Nguyên Đán đến tôi luôn có vấn đề là không thể quên được cảnh tượng đau thương của gia đình.
Tôi biết một trong những quân phiến loạn có mặt lúc đó đã hành quyết gia đình tôi.
Họ rút súng dí vào đầu tôi, định bắn vỡ sọ tôi khi tôi chỉ là đứa bé, may mắn thay họ đã không làm điều đó. Tôi biết có lẻ là nhờ Ơn Chúa. Tôi nhìn họ như đang nhìn các bạn và có điều gì đó lóe lên và họ ngừng lại.
Tôi phải nghe Mẹ tôi khóc trong đau đớn suốt 2 giờ đồng hồ trước khi bà ấy qua đời.
Tôi đau đớn vô cùng, theo tôi thà có một viên đạn trong đầu bà còn hơn để bà trải qua điều đó.
Ngày nay khi tôi mặc quân phục Hải quân Hoa Kỳ ra chiến trường, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro, sẵn sàng hy sinh mình, nhưng không phải dành cho trẻ nhỏ, không phải dành cho Mẹ tôi. Đối với tôi, thực sự điều này làm tôi khổ tâm nhất.
Đó là sự thật về gia đình tôi, ít nhất Mẹ tôi và Anh Chị Em tôi đã bị hành quyết.
Hãy tưởng tượng nếu Eddie Adams chụp bức ảnh gia đình tôi bị hành quyết,
phản ứng thế giới sẽ như thế nào và bức ảnh đó có thay đổi tiến trình của Chiến tranh Việt Nam không? Nhưng tiếc thay, thậm chí không để lại một chút gì trong lịch sử! Nhưng đối với Eddie Adams, một nhiếp ảnh gia thì một tấm ảnh gây hại nhiều hơn là lợi ích. Ông cho biết có hai người đã chết trong bức ảnh đó:
 “Một vị Tướng đã giết tên Việt cộng, và tôi đã giết vị Tướng bằng máy ảnh của tôi”.


– Phan Nhật Nam: Đơn vị của tôi Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù là Tiểu đoàn giữ được mặt trận Quảng Trị và mặt trận Huế trong tháng Giêng 1968. Những giờ phút đầu tiên chúng tôi không chuẩn bị, nhưng đến lúc phản công ở Huế, chúng tôi chiếm được thành phố Huế và treo Cờ VNCH trên tháp Huế ngày 24/2/1968. Mặt trận Huế của Việt công lúc ấy đã xin phép Hà Nội rút quân vì thiệt hại quá lớn, nhưng Lê Đức Thọ ở ngoài Bắc và Lê Duẩn bắt buộc phải bám trụ cho đến phút cuối để làm áp lực ở Hôi nghị Paris.

– Walter Cronkie: Nhà truyền thông, nhà báo Mỹ, được mệnh danh là người đáng tin cậy nhất ở Mỹ sau khi được bình chọn, đã cho biết:
“Đầu tiên và đơn giản nhất, Việt cộng đã phải thất bại về mặt quân sự. Nhiệm vụ của họ hóa ra là tự sát. Nếu họ có ý định ở lại thành phố để đàm phán thì họ sẽ thất bại.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã phản ứng tốt hơn cả những gì mà những người ủng hộ nhiệt thành nhất mong đợi. Binh lính của Quân lực VNCH không có đào ngũ như Việt cộng mong đợi và người dân không bao giờ đứng lên ủng hộ Việt cộng như họ hằng mong ước.
Tối nay chúng tôi muốn quay lại cảnh tượng ở New York, chúng tôi muốn tóm tắt lại những phát hiện của mình ở Việt Nam. Ai thắng, ai thua trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân vào thành phố.Tôi không chắc Việt cộng thắng với cú hạ đo ván và Chúng ta cũng không thắng.
Giờ đây có vẻ chắc chắn hơn bao giờ hết, cuộc chiến đẩm máu ở Việt Nam đã kết thúc trong bất phân thắng bại. Nói rằng chúng ta bị sa lầy trong bế tắc có vẻ là kết luận thực tế duy nhất nhưng không thỏa đáng. Đây là Walter Cronkie – Good night!

Kết luận:
Cuột tấn công thất bại Tết Mậu Thân phơi bày sự tàn bạo của lực lương Cộng sản tại miền Nam. Đó không phải là cuộc giải phóng mà là cuộc xâm lược tàn bạo do

Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo. Tuy nhiên truyền thông tường thuật, ca ngợi cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã mang lại cho Hà Nội một chiến thắng về tâm lý, và đó là khởi đầu cho hồi kết. Gánh chịu thất bại quân sự trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, Hà Nội đồng ý tham gia đàm phát ở Paris không phải để thỏa thuận mà để mua thời gian.
Chuyến đi của Nixon đến Trung cộng năm 1972 làm giảm nhu cầu sử dụng Nam Việt Nam làm tuyến đầu chống lại sự lan tràn của Cộng sản.
Năm 1973, sau 5 năm đàm phán bí mật, Kissinger chấp thuận mọi yêu cầu mà phe Cộng sản đưa ra vào năm 1968.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kịch liệt phản đối thỏa thuận này và Nixon đe dọa cắt hết viện trợ cho miền Nam Việt Nam.
Và rồi ngày 30/4/1975, xe tank của Liên Xô từ miền Bắc húc đổ cổng Dinh Độc lập hoàn thành việc thống nhất Việt Nam dưới chế độ Công sản như Hà Nội đã đề ra năm 1953.
Chiến tranh Việt Nam kết thúc không đem lại hòa bình, dân chủ hay thịnh vượng mà thay vào đó Việt Nam mở ra xung đột với Campuchia và Trung Quốc.
Chánh sách trả thù sau chiến tranh của Hà Nội đã buộc hàng triệu người miền Nam phải rời bỏ đất nước bằng mọi cách.
Từ tro tàn, Công đồng người Mỹ gốc Việt đã vươn lên và đóng góp rất nhiều cho đất nước Hoa Kỳ.
Những câu chuyện về mỗi chúng ta đều chưa kết thúc. Kể câu chuyện của mình là cách chúng ta định nghĩa con người mình và trách nhiệm đó thuộc mỗi người trong chúng ta.

Nhận xét:
Như tôi đã nói đây là Phim Chiến tranh Việt Nam do người Việt Nam thực hiện là nhà sản xuất Phạm Văn Nam và Đạo diễn Nguyễn Đức.
Có thể nói đây là lần đầu tiên một bô phim tài liệu lịch sử về Chiến tranh Việt Nam đã được trình bày một cách khách quan, trung thực và đạo đức, không thiên vị cũng không đề cao phía bên nào, bởi vì sau nửa thế kỷ các nhà thực hiện đã rút kinh nghiệm và thu thập các tài liệu như Wikipedia, tài liệu giải mật, các hồi ký của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, các sử gia, cũng như các buổi Hội thảo Chiến tranh Việt Nam
Một điểm đáng khen là bộ phim đạt kết quả tốt qua cảm tính của khán giả, nhất là cộng đồng người Việt hải ngoại, phim đã không bôi nhọ Quân Lực Việt  Nam Cộng Hòa với những phê bình tiêu cực nào là binh sĩ đào ngũ, cấp lãnh đạo tham nhũng, … như trong Phim “The VietNam War” của hai đạo diễn Ken Burn và Lynn Novick.

Tuy nhiên tác phẩm nào cũng khó hoàn hảo, không sao tránh khỏi một vài khuyết điểm như:
 – Phim chưa khai triển hết ưu điểm của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa như
 tính nhân bản của QLVNCH, hay những thủ đoạn tàn sát dã man của chế độ           Cộng sản trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968.
– Bộ phim chỉ nói về Chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến 1968.
Theo ban thực hiện, những phim sau sẽ tiếp tục nói về cuộc chiến Việt Nam từ1968 đến 1975 và thời gian ở Hải ngoại, hậu duệ Việt Nam đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ như thế nào?

Thiệt hại:
– Hoa Kỳ:  58,220 Chết;  304,000 Bị thương;  1,578 Mất tích.
– Nam Việt Nam:  250,000 Chết; 1,200,000 Bị thương; 300,000 Mất tích.
– Cộng sản Bắc Việt: 1,100,000 Chết; 1,000,000 Bị thương; 200,000 Mất tích.
– Thường dân: 4,000,000 Chết; 3,000,000 Bị thương.
– “Cải tạo”: gồm hơn 1 triệu quân nhân, quan chức chính phủ miền Nam đã bị tập trung “cải tạo” – 150,000 Chết
Ít nhất: 2,500,000 người trốn khỏi Việt Nam từ 1975 đến 1990:
                 – 400,000 Chết; 10,000 Mất tích.

 Hoàng Đình Khuê 

Ngày 1 tháng 1 năm 2026.

Tiểu sử Nhà làm phim PHẠM VĂN NAM

Ông Phạm Văn Nam là một nhà điều hành, tư vấn và chuyên gia sáng tạo, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, chánh phủ, truyền thông và lĩnh vực phi lợi nhuận.
Ông có kiến thức rộng rãi về sắc màu cộng đồng của Massachusetts, các vấn đề chính trị và đa văn hóa. Ông là người Việt Nam, nói và viết thông thạo tiếng Việt.
Ông còn là tác giả, nhà làm phim và nhà giáo dục có tài. Ông đã xuất bản sách bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.
Ông có nhiều khách hàng như Đại học Havard, AI Woed Society, Mass Global Partners, Power Trunk Cero-Global và Glimex.
Ông đã phục vụ trong cộng đồng từ năm 2015 khi ông được chính quyền Baker/Polito bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Phát triển Kinh doanh và Thương mại Quốc tế; ông là người Mỹ gốc Á đầu tiên giữ chức vụ này tại Massachusetts.
Từ năm 2020 đến năm 2022, ông giữ chức Giám đốc Bất động sản và Quản lý Tài sản tại Bô Giao Thông Vận tải Massachusetts.
Từ năm 2011 đến năm 2015, ông là Giám đốc điều hành VietAid, tổ chức phát triển cộng đồng người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ.
Sự nghiệp trước đó của ông trong hai thập kỷ trong lĩnh vực Ngân hàng gồm Bank Boston, Bank of America và Asian American Bank.
Ông còn là một học giả Quản lý Tổng Thống dưới thời Tổng Thống Reagan, ông cũng giảng dạy các khóa tại Đại học Tufts về Chiến tranh Việt Nam và Chánh sách Tị nạn, Nhập cư của Hoa Kỳ.
Ông cũng là nhà lãnh đạo lâu năm, đồng sáng lập trung tâm ngôn ngữ tiếng Việt Văn Lang, nơi đã đào tạo hơn 400 thanh thiếu niên mỗi năm trong hơn 25 năm.
Hiện ông đang là thành viên Hội đồng quản trị của Viện Albert Einstein và Trung tâm Y tế cộng đồng DotHouse.
Từ năm 2020 ông đã dẫn chương trình Truyền hình cáp trên toàn quốc.
Ông đang sản xuất và biên soạn bộ phim tài liệu lịch sử sắp Ra Mắt: “Chiến tranh Việt Nam – Những chuyện chưa kể – Thử thách, Thành công và Bi kịch của miến Nam.”
Ông từng biên soạn cho loạt Video 12 tập:”Trung Quốc Đỏ – Những mối đe dọa đối với Thế giới” vào năm 2023.
Ông có bằng Cử nhân Quản lý Kinh doanh từ trường Carlson thuộc Đại học Minnesota và bằng Thạc sĩ Hành chánh Kinh tế Chính trị từ Chính phủ Kennedy thuộc Đại học Havard.

                 Tiểu sử Đạo diễn NGUYỄN ĐỨC

Nhà Đạo diễn Nguyễn Đức từng đoạt giải Emmy các phim tài liệu về chủ đề quê hương, nhập cư, chiến tranh, lịch sử xung đột và hòa giải.
Tác phẩm của ông bao gồm ”Bolinao 52”, đoạt 2 giải Emmy khu vực Bắc California năm 2009 về phim tài liệu và Nhạc phim xuất sắc “Stateless”.
Phim tài liệu dài thứ hai của ông đã giành được giải thưởng do khán giả bình chọn và Giải thưởng Spotlight tại Liên Hoan phim Quốc tế Việt Nam năm 2013.
Năm 2017, ông đã sản xuất, đạo diễn và biên soạn phần thứ ba trong một  phim bộ ba về người Việt Nam vượt biển “Nothing Left to Lose”.
Hiện tại ông đang thực hiện một số dự án đa phương tiện, bao gồm môt phim tài liệu về một em bé được sinh ra trên tàu Trường Xuân, con tàu cuối cùng rời Việt Nam trong biến cố 30 tháng tư năm 1975 và một trang Web lịch sử kỹ thuật số ghi lạị kinh nghiệm của người tị nạn ở Đông Nam Á.

VÀI HÌNH ẢNH CỦA TÁC GIẢ HOÀNG ĐÌNH KHUÊ & PHÓ ĐỀ ĐỐC HẢI QUÂN NGUYỄN TỪ HUẤN & NHÀ LÀM PHIM NAM PHẠM.