UẨN KHÚC CHIẾN DỊCH LAM SƠN 719 ĐƯỜNG 9-NAM LÀO (Phan Nhật Nam)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

May be an image of text that says 'LIFE'

No photo description available.

May be an illustration

May be an image of text that says 'corbis'

May be a black-and-white image

No photo description available.

May be an image of text that says 'LOLO'

May be an image of helicopter

No photo description available.

No photo description available.

May be an image of jeep

May be an image of text that says 'Http://hientranhvietnam.com ranhvietnam. vietnammilitary.com vietnammilit'

May be a black-and-white image of fog and text that says 'LIFE'

May be an image of text that says 'Cuộc hành quân Ha Lào Lam Sơn 719 Operation Lam Son 719 8 February 25 March 1971 197 lôi <Hôm nay, mùng 8 thông 2 nộm đora đã ra lệnh cho คบ lực Việi Nam Công Hόo tón công νάο cóc cán εύ của quôn Cộng son Bός Việ nom trên ành thỏ Ai Lao, doc . biên iig Lao Việl thuộc Quén Khu Νρέπ--Τ Thiệu Tòng Thóng ViệlNom Việl Cộng Hòo'

May be an image of text

May be an image of helicopter and text

May be an image of helicopter and text that says 'vnafmamn.com com Photo PhotoColleatin Colleatsin'

May be a black-and-white image of helicopter

May be an image of text

May be an image of text

No photo description available.

May be an image of text that says 'VBSC VBSC Một đơn vị cửa Sư อฉลัก chuẩn bị trưc tháng vận vào Tchepone Lào L'

May be an image of text

May be an image of helicopter and text

No photo description available.

May be an image of text that says 'gel gettyimages Bettmann LNTUN 515395054 TO.PHANSU'

May be an image of text that says 'VC triple A confiscated at Battle (Lam Son 719) የኒረንስ รมิกาก. con'

May be a black-and-white image

No photo description available.

May be an image of ‎text that says '‎<Hôm noy, mùng 8 2 năm 1971, 1971,18i tỗi đa ra ๋ cho ค lực Việt Nam NamCộng Công Hdo เอ็ก công vào cόc con cứ của quên Cộng sẽn Bộc اiV nồm แอิก lành ሐፊ Ai Loo, dọc theo biên giỏi Lào Việi Quôn Khu 1. Ma --ุ Tồng Thống Việt Nom Cộng Hόo‎'‎

May be an image of text that says 'corbis'

May be an image of text that says 'corbis'

May be an image of map and text

May be an image of text

May be an image of helicopter

May be an image of fire and text

Tchepone, Chiếc bẫy sập đóng lại
​Khi lực lượng Nhảy Dù và Thiết Kỵ bị cầm chân ở A-lưới thì việc tiếp tục tiến chiếm Tchepone với bộ binh chỉ còn là một “mục tiêu bề mặt”, cốt để biện hộ một cách tai hại về một ước tính quân sự sai lầm, nhằm mục đích yểm trợ cho một sách lược chính trị.
Sách lược ấy được nhận ra, khi Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Hoa Thịnh Đốn một nội dung khả thể, đêm 7 tháng 4 Tổng thống Nixon có thể nói cùng dân chúng Mỹ: “Đêm nay tôi có thể báo cáo rằng chính sách Việt Nam Hóa đã thành công!”, nhằm trấn an những nhóm biểu tình phản chiến, đòi cải thiện chế độ an sinh xã hội cho người da đen ở các tiểu bang miền Nam nước Mỹ.
​Ngày 3 tháng Ba, hai Lữ Đoàn A, B Thủy Quân Lục Chiến từ Khe Sanh được đưa vào thay thế các đơn vị Sư Đoàn 1 Bộ Binh thuộc vùng trách nhiệm hai Căn cứ Delta và Hotel.
Như thế, mặt trận Hạ Lào chỉ còn một Lữ Đoàn TQLC làm thành phần trừ bị; cũng có nghĩa tương tự đối với toàn bộ lực lượng quân sự miền Nam.
Những Tiểu Đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn 1 rời bỏ vùng vừa bàn giao, tiến sâu về phía Tây, lập các Căn cứ hỏa lực Sophia, Liz, và Lolo trên các cao độ 748, 690, và 723, Đông-Nam mục tiêu Tchepone. Lolo thực sự chỉ là một bãi đáp chứ không hẳn là một Căn cứ hỏa lực.
​Ngày 6 tháng Ba, một phi đội khổng lồ gồm 120 trực thăng Huey được trực thăng vũ trang Cobra và phản lực chiến đấu yểm trợ bao vùng đổ quân bộ xuống bãi đáp Hope, bốn cây số Đông-Bắc Tchepone, sau khi B-52 đã trải thảm dọn sạch khu rừng rậm hàng trăm năm không dấu vết người chung quanh bãi đáp.
Cuộc không vận được xếp hạng là một trong những cuộc hành quân bằng không quân lớn nhất chiến sử Đông Dương; năm 1954, lực lượng không quân vùng Tây-Bắc của Tướng Cogny chỉ có đúng hai trực thăng Alouette cho Chiến Dịch Castor để chiếm đóng Điện Biên Phủ.
​Cuộc không vận đưa Tiểu Đoàn 4/Trung Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 2 vào vùng lửa Tchepone, đây là hai đơn vị ưu tú nhất của Sư Đoàn 1 BB do Trung tá Lê Huấn và Trung tá Trần Ngọc Huế chỉ huy; cả hai cùng Khóa 18 Trường Võ Bị Đà Lạt và được đánh giá là những sĩ quan xuất sắc của khóa.
Nhưng dù hai Tiểu Đoàn trên có gồm những người lính can trường, được chỉ huy bởi những sĩ quan xuất chúng bao nhiêu, cứ điểm Hope mà hai đơn vị có nhiệm vụ đổ bộ xuống để rồi sau đó làm đầu cầu đột kích trong im lặng tuyệt đối vào “thị trấn Tchepone” đã là một nơi hoang vắng với những thây chết rải rác, cũng có nghĩa “Kế Không Thành” mà Bắc quân giương ra đã hoàn tất.
​Toàn bộ các bãi đáp, địa điểm này đã là những “điểm hỏa tập tiên liệu” của pháo, cối, hỏa tiễn diện địa của bộ đội cộng sản. Kết quả bi thảm đương nhiên xảy đến, Tiểu đoàn trưởng Lê Huấn tử trận, Trần Ngọc Huế bị bắt sống…
Hai Tiểu Đoàn tan vỡ như những mảnh vụn của những khẩu pháo 105 thả xuống ở các căn cứ Hope, Sophia, Liz…
Có những khẩu chưa hề bắn được một viên đạn, vì những lưới đạn quả thật chưa hề được thả xuống kịp trước khi các căn cứ tan vỡ.
Ông Thiệu ra lệnh “rút quân” sau “chiến thắng Tchepone”, bất chấp lời khuyến cáo từ phía Tướng Abrams – Tăng cường Sư Đoàn 2 Bộ Binh cho mặt trận Hạ Lào và giữ chặt nút chặn Tchepone để hoàn thành mục tiêu chiến lược – Cắt đứt đường tiếp vận Bắc-Nam của quân đội cộng sản.
​Cuộc rút quân không chuẩn bị tất nhiên biến thành lần tháo chạy, khi các Căn cứ lần lượt bị đánh vỡ, mất hẳn thế “yểm trợ liên hoàn – viên đá tảng cột trụ của chiến thuật Căn cứ hỏa lực”.
Sau Sư Đoàn Nhảy Dù của giai đoạn đầu, Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở giai đoạn hai, tiếp theo, đến lượt Sư Đoàn TQLC chịu lần phanh thây trên những đỉnh núi trần trụi dưới cơn mưa lũ đại pháo của Bắc quân được chuẩn bị từ một năm trước, năm 1970.
​Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến nhận vùng trách nhiệm, bố trí các Tiểu Đoàn theo hướng Bắc-Nam. Tiểu Đoàn 4, 7, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A có pháo binh Tiểu Đoàn 2 Pháo yểm trợ.
Căn cứ hỏa lực chính được Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” bảo vệ, đồng thời làm thành phần trừ bị.
Phía Nam, Lữ Đoàn A, hai Tiểu Đoàn 3, 8, có nhiệm vụ phá thế trận cộng sản bao vây, chia cắt.
Nhưng tất cả phối trí chiến thuật này đã trở nên bất khả dụng, bởi phe cộng sản đã chuẩn bị đủ cho chiến trường, từ quốc tế đến quốc nội, với biểu ngữ của đám biểu tình phản chiến ở Mỹ đến Dinh Độc Lập ở Sài Gòn.
​Cụ thể nơi mặt trận Hạ Lào, quân cộng sản đã bắn không trật một viên đạn ra ngoài các Căn cứ hỏa lực.
Và sau khi các căn cứ Nhảy Dù ở mặt Bắc bị tràn ngập; Sư Đoàn 1 Bộ Binh phải rút bỏ sau cái gọi là “chiến thắng chiếm đóng Tchepone”; vùng trách nhiệm của TQLC gánh khối nặng còn lại của trận chiến vô lý bi thảm này… Lữ đoàn A TQLC với Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” của Tiểu đoàn trưởng, “Robert Lửa” Nguyễn Xuân Phúc trở thành tụ điểm của tất cả nguồn lửa lớn của chiến trường.
​Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Phúc nói với Đạt, Chỉ huy trưởng pháo binh, đơn vị pháo còn lại duy nhất của trận địa: “Ông khỏi yểm trợ cho ai nữa, hạ nòng súng xuống, ‘cua’ nó lên con nào, ông nướng con ấy cho tôi”.
​“Cua”, Phúc dùng chữ với ý khinh miệt hơn nghĩa khôi hài để nói về những chiến xa của Bắc quân.
Và đến lúc cuối cùng, Phúc hét lớn qua máy truyền tin: “Khỏi cần hỏi lệnh tôi, còn bao nhiêu đạn ông cứ chơi hết bấy nhiêu…” Hai Tiểu Đoàn 4 và 7 ở vùng ngoài căn cứ vùng vẫy tuyệt vọng giữa đám kẻ thù say máu như con hổ trọng thương bị loài kền kền rúc rỉa.
Phúc hướng dẫn từng phi tuần từ hạm đội bay vào cứu bạn. Những viên phi công Mỹ dần quen với giọng nói của “Foxtrot” (ám danh đàm thoại không-lục của Phúc với phi công Hạm Đội 7), để đến một đêm…
Đêm hỏa ngục lật ngược để bày ra trên trần gian nguồn lửa lênh láng hung tàn không hề cạn.
Lửa rùng rùng lay động suốt dãy núi rừng ầm vang tiếng nổ.
Tiếng nổ của đại pháo, hỏa tiễn bắn từng đợt, từng tràng một lần mười, hai mươi trái, từ bốn, năm vị trí.
Trong chuỗi âm động quái dị ấy, súng tay đì đẹt nhỏ nhoi như một loại pháo lép và cuối cùng với những đợt bom. Bom ném một lượt từ ba phi tuần phản lực nối cánh nhau như cảnh tượng trong các phim chiến tranh.
Phi cơ Mỹ bao vùng suốt từ sáng sớm, Đà Nẵng, Thái Lan, Hạm Đội 7, Guam qua chiều vào đêm, bay đến…
Đêm đến, Bắc quân từ hang ổ, đường thông thủy, giao thông hào, địa đạo theo xe tăng tấn công lên đồi tiêu diệt Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A, Tiểu Đoàn 2 Pháo qua hàng rào phòng thủ của “Trâu Điên”. Và Tiểu Đoàn 2 TQLC quả thật là một con trâu điên đơn độc đương cự giữa bầy sài lang nanh vuốt.
Phúc đã theo dõi và thấm hiểu nỗi đau những lần thất thủ của các đơn vị bạn, những Tiểu Đoàn 37 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2, 3, Lữ Đoàn III Dù… Hai tiểu đoàn 4, 7/TQLC ngoài căn cứ chỉ còn một đường liên lạc qua hệ thống truyền tin của Tiểu Đoàn 2 TQLC.
Phúc hướng dẫn phi cơ Mỹ thả trái sáng để hai đơn vị này lần đường về phía Nam, nơi các Tiểu Đoàn 3 và 8 đang đợi “bắt tay”.
Bộ chỉ huy Lữ Đoàn hoàn toàn tê liệt, pháo binh cũng chỉ còn những viên đạn cuối cùng, Đạt báo cáo với Phúc… “Tụi nó tràn ngập vị trí, tôi phá súng!”
​Và cuộc hỗn chiến trong đêm bắt đầu. Tiếng súng lớn đồng im bặt, tiếng súng nhỏ cũng không còn, chỉ âm động của da thịt người bị xé rách, đâm nát, vỡ nhầy dưới xích xe tăng.
Trong bóng tối chập chờn tàn lửa, nghi ngút khói của những trận pháo càn từ bao ngày qua, từ giờ trước…
Những bóng người nhào vào nhau, tìm đường chạy hoặc cách giết người hiệu quả để được lần sống sót.
Phúc hằng tiên liệu rõ tình huống tuyệt vọng gớm ghê này, nên anh đã ra lệnh cho toàn đơn vị “tay áo phải xắn cao, tay áo trái thả dài xuống”, làm dấu hiệu nhận bạn giữa đêm tối, vượt nỗi chết.
Và từ vũng sâu cảnh địa ngục trần gian kia, người ta nghe rõ tiếng hét lớn lặp lại nhiều lần… “I’m crazy buffalo battalion commander, đ…m… tao ground chief… go ahead, do it please…”
​Bầu trời, mặt đất cùng bị vỡ tung, những quả bom chạm nổ ngay khi vừa rời khỏi cánh tàu bay.
Phúc nương theo đợt dội bom, hứng đủ trận bom, bảo vệ Bộ chỉ huy Lữ Đoàn, Tiểu Đoàn 2 pháo, và đơn vị rút khỏi căn cứ.
Trong bản ghi dữ kiện của máy bay, tọa độ Phúc yêu cầu dội bom cũng là tọa độ của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A TQLC mà Hạm Đội 7 đã yểm trợ từ bao ngày qua.
​4:00 giờ sáng, Phán, Tiểu đoàn trưởng TĐ8 TQLC từ trên đỉnh ngọn Cô-rốc, đỉnh núi cao nhất vùng, nhìn suốt hai bên sườn Đông, Tây Trường Sơn, lắng nghe tiếng nói khẽ, đứt khúc của Phúc… “mày… mày thắp đèn cầy (trái sáng), tao dẫn tụi thằng 4, 7, và con cái tao về…”.
​9:00 giờ sáng hôm sau, Phán xuống núi, Phúc đang dìu Đại tá Thông bước chập choạng.
Giữa đám quân tan tác, Phúc là người nhỏ, thấp, gầy nhất.
Nhưng quả tình anh là người cao, bền hơn hẳn. Như Người Lính không hề chết. Và nếu họ có mất đi hình hài cũng chỉ để Tổ Quốc hằng muôn thuở tồn sinh.
Tổng kết trận Hạ Lào, Trung tá Pháo Binh Nhảy Dù Bùi Đức Lạc nhận xét: “Máu của Người Lính đã đổ xuống Hạ Lào, thịt xương họ không vun trồng màu mỡ quê mẹ mà làm tươi tốt cho đồng, rừng xứ người.
Nhưng đau thấm thía, lâu dài hơn khi trận Hạ Lào bị cơ quan truyền thông ngoại quốc che mờ bằng màn khói bại trận, lại được tô son chuốc lục bởi phóng viên người Việt với màu tang trắng quê hương…”
​Hậu Từ
​Hôm nay, kể từ buổi binh đao tàn khốc kia, Thắng, Bại; Công, Tội của những bên lâm chiến đã được lịch sử chứng minh.
Chỉ riêng Người Lính – Những Người Lính không trở về – Những Người Lính sống sót cùng Nỗi Đau không hề chấm dứt với khổ nạn Quê Hương.
Đại tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn III Nhảy Dù Nguyễn Văn Thọ là một trong những người lính phẫn hận kia.
​Sau lần sống sót dưới cơn bão dữ đạn bom của cả hai phía, Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Trung tá Trần Văn Châu, Thiếu tá Trần Văn Đức, các Đại úy Lê Đình Châu, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Quốc Trụ… thuộc Bộ chỉ huy Lữ Đoàn III, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh ND được lệnh di chuyển ra Bắc với chân trần, trên thân người vết thương còn tươi máu.
Tại Hà Nội, họ được đưa ra trình diện báo chí (của miền Bắc và khối cộng sản) để làm cớ chứng: Quân đội Mỹ–Ngụy tấn công lãnh thổ của nước Lào (gọi là) trung lập.
Đồng thời viên cán bộ chính trị cao cấp điều hành buổi họp báo cũng lên tiếng: “Cực lực bác bỏ lời tố cáo của báo chí miền Nam: cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam qua ngã Lào (!)”
Đài phát thanh Hà Nội lớn tiếng rêu rao: “Trận chiến Đường 9 Nam Lào là một đòn sấm sét của lực lượng nhân dân yêu chuộng hòa bình của ba nước Đông Dương đã đoàn kết chiến đấu, đập tan âm mưu của tập đoàn thực dân mới Mỹ nhằm mưu định chiếm đóng Đông Dương mà ngụy quyền Sài Gòn là tay sai đắc lực nhất.”
​Lời cáo buộc được cả thế giới “tin cậy” nên từ Hội Nghị Paris (1968–1973) trở về Hà Nội, bí thư Xuân Thủy được Đức Giáo Hoàng Paul VI tiếp kiến do những nỗ lực gọi là “tái lập hòa bình ở VN” của y ta đại diện cho Hà Nội tại bàn hội nghị.
Chưa hết, thế giới lại “rất sáng suốt” trao giải Nobel (gọi là) Hòa Bình cho Lê Đức Thọ. Đây cũng là viên bí thư chiến dịch Hồ Chí Minh lần tiến chiếm Sài Gòn (4/1975) với 16 sư đoàn bộ binh cộng sản Bắc Việt như lời than vãn của Kissinger, kẻ đồng nhận giải Nobel Hòa Bình với Thọ.
​Trong chiều hướng “tin cậy đối với cộng sản Bắc Việt”, Hiệp Định Ba-lê ký kết ngày 27 Tháng 1, 1973 đã long trọng xác nhận “Hai bên miền Nam Việt Nam trao trả cho nhau những nhân viên quân sự được bắt giữ…”
Với định nghĩa này, toàn bộ các Sư đoàn bộ binh, khối lượng vũ khí khổng lồ gồm xe chiến xa, đại pháo của cộng sản miền Bắc nơi mặt trận Hạ Lào đồng được “hóa không” để trở thành “quân đội giải phóng Lào yêu nước” hoặc của “lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam”!
Và hệ quả tiếp theo là: “Không có tù binh VNCH nào của mặt trận Đường 9 Nam Lào trong danh sách trao trả theo Nghị Định Thư về Tù Binh của Hiệp Định Paris 1973.”
​Văn bản được long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới, được 13 nước ký Định Ước Bảo Đảm Thi Hành bao gồm Liên Xô, Trung Cộng!
Màn dối gạt ngang ngược vô liêm sỉ đối với thế giới tiếp tục hiện thực trong Ngày 30 Tháng 4, 1975 với sự đồng thuận của chính phủ Mỹ. Cuối cùng, chỉ một năm sau, 1976, nhóm người tù miền Nam trong một buổi đi ra Đoàn (Đoàn 776) ở Yên Bái để lãnh gạo.
Chúng tôi nhận ra người tù Hạ Lào: Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn III Nhảy Dù, Trung tá Trần Ngọc Huế, Tiểu đoàn trưởng TĐ2/2/SĐ1BB và nhiều anh em tù binh khác thuộc các binh chủng TQLC, BĐQ, BB, Thiết Kỵ, đông đảo nhất là những Biệt Kích Quân, tổng số của những tù binh VNCH rơi ra ngoài danh sách trao trả theo Hiệp Định Paris.
Đại tá Thọ giữ nhiệm vụ chăn nuôi, Trung tá Huế dầm suối chuyển cây gỗ… Chúng tôi đứng nghiêm chào kính: Chào Đại tá! Ông trầm giọng buồn phiền: Các em cố gắng nghe! Vâng, tụi em cố gắng!
​Năm 1996, người viết qua Úc, nói chuyện ở Sydney, gặp lại Người Lính Nhảy Dù không mệt mỏi, đến góp tiếng với “thằng em”. Tôi khám phá ra một điều cao thượng bất biến: Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 8; Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn III ND; Tù Binh Hạ Lào; Người già tị nạn nơi đất Úc… Tất cả luôn ở trong một tình trạng “cố gắng”.
​Nhảy Dù Cố Gắng! Đích Thân về cõi Phật bình an.
PHAN NHẬT NAM