VỀ MIỀN QUÁ KHỨ.

Đường Đồng Khánh, quận 5, Chợ Lớn, năm 1965

\



Đại lộ Trần Hưng Đạo là một trong những con đường huyết mạch, là trục giao thông chính nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. Lề đường hai bên rất rộng, được che mát bởi hai hàng cây cao vút, thân to lớn, thẳng đứng, nhánh xòe mang nhiều trái có hình thù giống dái ngựa (?) nên cây bị đặt luôn cho cái tên khó nghe đó.
Nghe vậy mà không phải vậy, vì theo tôi nhận thấy, thành phần nào của loại cây nầy cũng dễ thương hết. Tôi đã từng say sưa ngửa mặt dang tay hứng đón những cơn mưa hoa vàng đổ xuống trong khi gió lay lá reo xào xạc.
Đến mùa trái khô, những trái hình quả lê hay quả bơ màu nâu láng năm cánh nở bung ra rớt xuống lề đường, tức thì cả đống hột có cánh đơn đồng loạt bay, vừa bay vừa quay mòng trông giống như một màn đổ bộ của đoàn quân nhảy dù lơ lửng trên không.
Nhà phố hai bên rất khang trang, sầm uất, có nhiều cơ sơ thương mãi, trường học công lập, hí viện, nhà thương, cơ quan chính phủ, giáo đường. Nhà thờ Tin Lành Sài Gòn (nằm ngay góc Trần Hưng Đạo/ Đề Thám) cũng là nơi tôi hay la cà vì ham vui, nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh, được nghe ban hợp ca hát liên tiếp nhiều bài êm ả lỗ tai vô cùng (Đêm đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá, trong máng lừa.). Tôi từng vào bên trong thánh đường ngồi chăm chú nghe rao giảng đạo của Đức Chúa Trời, được phát cho mấy tập bài giảng có nhiều hình vẽ rất đẹp.
Lễ Quốc Khánh 26/10 hằng năm dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa nhiều lần được tổ chức trên con đường nầy với khán đài danh dự được dựng lên trước trường nam tiểu học Tôn Thọ Tường. Tiếng trống, tiếng kèn của các ban quân nhạc vang vọng vào tận nhà tôi nghe rất rõ. Bài hát Suy Tôn Ngô Tổng Thống với những câu Ai bao năm từng lê gót nơi quê người . Cứu đất nước, thề tranh đấu cho tự do đã bị bọn trẻ trong xóm tôi sửa lời lại là Ai bao năm từng lên gối nơi be sườn . Cú cái cốc ngồi chong ngóc trong cầu tiêu!
Sân trường Tôn Thọ Tường rộng lắm, được dùng làm nơi tổ chức hội chợ triển lãm hàng nội hóa mấy lần, có sân khấu và chương trình ca nhạc sống giúp vui. Tôi đã nghe ca sĩ Việt Ấn hát bài Hận Đồ Bàn ở đấy. Sân trường nữ tiểu học Phan văn Trị có trồng mấy cây chuối, cả bầy dế cơm làm ổ dưới gốc, tôi bắt mấy chục con cho ông hàng xóm dồn đậu phọng chiên nhậu chơi.
Một lần khác, cà cuống bay về ngả tư nầy rất nhiều lúc ban đêm quần theo ánh đèn đường sáng quắc và đâm đầu rớt xuống dưới chân cột điện, tôi lượm đem về cho mẹ tôi nướng để giầm vô nước mắm pha lấy mùi thơm.
Trường Phan Văn Trị vào ban đêm biến thành Trường Bách Khoa Bình Dân Học Vụ dành cho học sinh người lớn trau giồi kiến thức văn hóa cho nên nhộn nhịp với đèn đuốc sáng trưng vui lắm. Cạnh rạp hát Đại Nam có lò bánh mì Vạn Kim của người Tàu hầu như mở cửa suốt ngày đêm. Bánh mì ổ kiểu Pháp và kiểu Ý xuất phát từ lò nầy ra nổi tiếng ngon nhứt Sài Gòn. (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Tôi hay ra lò bánh mì nầy mua vài ổ nóng hổi mới ra lò thơm phức đem về ăn với vịt quay, xá xíu mà cha tôi đã mua ở Chợ Cũ. Vừa bước vào cửa và đứng ở quầy đặt hàng và trả tiền, tôi có thể nhìn thấy sau vách ngăn thấp có gắn kính trong suốt bên trên, những người thợ toàn là thanh niên trẻ đang nhanh nhẹn làm việc.
Họ làm việc hầu như suốt ngày đêm vì bất cứ giờ nào tôi lội bộ ngang qua đó cũng đều thấy. Họ mặc áo thun trắng, bụng quấn tạp-dề trắng, đầu đội nón nồi trắng, cả nước da của họ nữa cũng trắng luôn vì dính đầy bột mì và vì luôn luôn làm việc không có ánh nắng mặt trời. Họ làm việc trong im lặng, hai tay cử động lẹ làng thoăn thoắt nhồi nhồi nắn nắn mấy cục bột rồi dùng một cây que thật dài bằng gỗ giống y như mái chèo để đưa bột vào lò gạch, bên dưới lửa than cháy đỏ rực.
Xin mời bạn đọc một văn sau đây nói về con đường Trần Hưng Đạo trích trong quyển tùy bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng của Trần Hồng Châu, bút hiệu của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, người từng giữ chức Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975:
Tôi vốn có duyên với đường Trần Hưng Đạo. Đổi nhà mấy phen vẫn quanh quẩn trong lưu vực của dòng Trường giang thành phố đó. Tôi trầm ngâm nhìn ngoài bản đồ Sài Gòn và trong tâm tư để xác định những điểm “cao”, những địa linh rải rác khắp dọc “sông”.
Đường Đồng Khánh hay Trần Hưng Đạo nối dài, vùng các khách sạn Đồng Khánh và Thiên Hồng-Arc en Ciel-nhất định phải là hẻm Vu-Sơn, Vu-Giáp trong Tình Sử và Đường Thi. Lòng đường bỗng dưng co hẹp lại, nhà cao tầng san sát, rập rình lớp lớp ngựa xe, từng hồi chao đảo, từng hồi nhấp nhô như sóng nước Trường giang bị kẹp chặt giữa hai sườn núi đá chênh vênh. (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Luôn luôn âm u sương khói phủ, khói phù dung và phạn điếm giống như những nét mịt mùng, đậm nhạt, rất thủy mặc của vùng cao-nguyên Tứ-Xuyên, đầy lam sơn chướng khí và màu sắc u huyền; luôn luôn chìm trong mênh mông màn khói thuốc lá thơm và hoang tưởng mùi phấn hương của nhạc chiều luân vũ, gần bên những Tân-Đào-Viên, những Bá-Lạc-Đài, những Đại-Thế-Giới của một thuở nào.
Đây là nơi đã từng đốt cháy hơn một cuộc đời, đất hứa của những cảm giác lạ, những giấc mơ tình ái có nhiều mây và mưa trong vương quốc của nữ thần huyền thoại. Đây là nơi, đúng như trong những diễm tình tiểu thuyết cổ điển, ta có thể lên ngôi hoàng đế một đêm, để sớm mai lại lủi thủi đi bên lề đường, cô đơn, như một Mại-Du-Lang đa tình, hay một thư-sinh chưa trọn giấc kê vàng sau buổi lạc đề thi ngoài cửa khuyết.
Đi xa hơn nữa tới vùng Nancy, mang tên con gái êm đềm của một vang vọng tình cảm, là đường Cộng-Hòa, mà tôi tạm gọi là sông Tương chảy vào Trường Giang.
Tác giả Trần Hồng Châu còn nói rất nhiều nữa (bảy trang giấy) về con đường Trần Hưng Đạo mà ông ví nó như một con sông chính có nhiều nhánh phụ chảy vào. Ông nhắc đến phía “hạ lưu” của dòng sông Trần Hưng Đạo có cái xóm Đề Thám của tôi với rạp hát Nguyễn Văn Hảo, Ngã Tư Quốc Tế, một cách ưu ái. Ông gọi đó là “một vùng Giang, Triết phồn hoa“, “một trong vài tụ điểm của những người đẹp Sài Gòn, một trong vài vương quốc của phụ nữ đô thành, của những cái gì đem lại một tấm linh hồn yểu điệu, nồng thắm cho trái tim miền Nam“.
Ông khen cái khúc phố tôi ở có nhiều người đẹp, điều đó đúng, vì thằng bé mười mấy tuổi là tôi trong những năm cuối của thập niên 50 đã rong chơi cuối trời quên học làm chứng cho ông. Tôi đoán chắc ông đã nhiều lần lân la ở phòng trà ca vũ nhạc Tháp Ngà (Tour d’Ivoire) nằm cùng một dãy với rạp Nguyễn Văn Hảo.
Ở đó thì khỏi nói, là nơi tụ họp của bao nhiêu ca sĩ tân nhạc thời danh như Kim Tước, Mỹ Thể, Bạch Yến, Bích Chiêu, Khánh Ngọc, người đẹp, quần áo đẹp, xe hơi đẹp, dân chơi cũng đẹp. Trai thanh và gái lịch nói cười rộn rã. Tiếng kèn saxophone, trombone, trumpet, contre bass, từ các cửa sổ trên lầu thoát ra vọng xuống đường mê hoặc.
Những bóng đèn đủ màu chớp nháy chạy vòng khung bảng hiệu vũ trường nằm thẳng đứng càng làm cho môi son, má phấn, tóc mây trở nên thêm huyền hoặc. Gió mát của trời đêm thoảng mùi nước hoa Channel No. 5 mân mê tà áo gợi ngất ngây. Một vùng phồn hoa. Đúng quá phải không các ông “Lá Thư Sài Gòn” Văn Quang, Người Tân Định, hay soạn giả Nguyễn Phương? (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Thật ra cái gì cũng có mặt trái của nó. Người ta thường có quan niệm văn chương thì phải hoa mỹ, bàn rộng khai triển mặt tốt và lượt bỏ những nét tiêu cực. Thành phố Sài Gòn, dẫu mà khó thương, cũng vẫn là thành phố tôi đã lớn lên, đã sống, đã yêu, đã nuôi dưỡng tôi khôn lớn.
Những nét xấu của nó không ít, nhất là cái xóm Đề Thám, rồi đến cái xóm Khánh Hội đã mang tiếng rất nhiều. Hai nơi đó có đầy đủ hết những tệ đoan của xã hội. Đề Thám có đĩ điếm, hút sách, cờ bạc, rượu chè. Vĩnh Hội có du đãng, trộm cướp, đá cá lăn dưa.
Đã nói Sài Gòn là thành phố có đầy đủ đặc tính của một thành phố bến cảng tất nhiên phải hiểu cái tốt và cái xấu cùng hiện hữu song hành bên nhau. Tôi không ca ngợi cái xấu, nhưng tôi cũng không nhắm mắt chối bỏ sự có mặt của nó. Xã hội nào cũng có mặt phải thắp sáng hào quang và mặt trái bị tránh né bỏ quên. Một thành phố tân tiến ơ Bắc Mỹ cũng không ra khỏi ngoại lệ nầy, cũng có khu sang trọng, khu bình dân, cũng có những vấn nạn khó giải quyết và tệ đoan xã hội.
Thành phố nước văn minh tân tiến có lường gạt kiểu tinh vi hiện đại; Sài Gòn chậm tiến lường gạt kiểu cò con. Dọc theo tường ngăn ga xe lửa Sài Gòn đầu đường Phạm Ngũ Lão, vào những năm cuối của thập niên 1950, tôi thấy có mấy người Thượng người Mường, gia tài chỉ có một cái gùi, ngồi xổm bán thuốc dân tộc gia truyền trị bệnh tầm bậy và tà ma. Tôi bị họ níu lại một lần.
Tuy nói tiếng Việt không rành bằng một giọng khó nghe, nhưng họ rất kiên trì giảng giải về mức công hiệu của thuốc. Trước hết, họ kêu hoặc ngoắc một khách bộ hành dừng lại rồi làm giọng như thương hại như thế nầy:”Chà! Cậu em đang bị bịnh nặng lắm đó! Da xanh, mặt mụn, cổ ốm cao nhòng! Dương khí đi đâu mất hết!
Di tinh, mộng tinh, hoạt tinh, linh tinh! Hay là bị thư bùa ngải gì rồi! Lại đây, lại đây. Tui có thuốc nầy hay lắm! Ma lai trên rừng mà còn phải chịu thua! Có năm đồng thôi. Uống vô bảo đảm một tháng sau là hết! Không hết lợi đây tui trả tiền lại!”
Dù trước đó chưa xanh mặt nhưng nghe họ phán xong, tôi cũng phải xanh vì sợ. Định bỏ đi thì bị níu lại:”Tui chỉ muốn cứu người làm vui, nếu cậu không có năm đồng thì trả tui hai đồng cũng được, miễn là cậu hết bịnh!”. Thằng nhỏ vốn cả nể nên mất toi hai đồng cho yên thân. Gói thuốc thì quăng luôn xuống cống. (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Mấy ngày sau đi ngang qua đó thì các thầy thuốc “dân tộc ít người” kia cũng đã chuồn đi chỗ khác! Đọc phóng sự Hà Nội Lầm Than của ký giả Trọng Lang, tôi mới biết nơi chốn thủ đô ngàn năm văn vật cũng có mặt những người Mường ngồi vĩa hè xóm Khâm Thiên bán thuốc trị bệnh kín cho các gái nhẩy nghèo.
Trên khúc đường Đề Thám giữa Trần Hưng Đạo và Cô Bắc có mấy tiệm may áo dài sát liền nhau, khách hàng thuộc phái đẹp dập dìu. Nhà may Hạnh Dung rất nổi tiếng trong giới nghệ sĩ cải lương. Bà chủ có hai cô con gái tên Hạnh và Dung, trạc tuổi tôi. Tình nhân của bà chủ là nghệ sĩ Thành Công, hay đến đó lắm. Mỗi ngày đi học, tôi bắt buộc phải đi ngang qua tiệm may, chạm mặt hoài.
Một lần không biết vì lý do gì, em trai của tôi và em trai của Hạnh và Dung đánh lộn. Bạn trai của Hạnh cũng nhào vô chơi đòn hội chợ. Em tôi chạy về nhà kêu tôi tiếp cứu. Tôi nổi máu anh hùng Lục Vân Tiên, quên mất tấm thân ròm, cùng em tôi chạy trở lại chiến trường hỏi tội “bọn côn đồ” và đấm đá một trận với thằng bạn trai đáng ghét của Hạnh. Sau đó tôi mới biết nguyên nhân chỉ vì em tôi đi ngang qua tiệm may và bị bọn chúng chọc ghẹo, em tôi tức quá đáp lại vỏn vẹn hai tiếng “công ngủ”, thế là bị đánh!
Tưởng như vậy đã yên, ai dè sau đó ít lâu, một bữa bọn tôi ba đứa gồm có chú út tôi (bằng tuổi với tôi), thằng em tôi và tôi đi học lội bộ về ngang qua đó, lại có chuyện xảy ra. Ba chị em Hạnh, Dung đi học trường Tây cũng vừa về tới nhà bằng xế hộp Peugeot 403. Hạnh Dung mặc đồ đầm bước xuống xe, tôi mới đưa mắt liếc một cái thì con chó berger từ trong tiệm may phóng ra sủa mừng bọn chủ.
Chú út tôi thích chọc chó hơn là ngó gái nên dậm chân giả bộ gừ gừ. Con chó quay qua, thằng em tôi sợ chó cắn nên chạy, hai chú cháu cũng chạy luôn, thế là con chó chạy theo và ngoạm vô ống giò của tôi một phát rách da chảy máu, báo hại tôi phải nghỉ học ngày hôm sau để cha tôi chở đi viện Pasteur chích ngừa bịnh dại. Tôi bị lụi kim vô bụng cả chục mũi, đau còn hơn chó cắn.
Ngã tư Đề Thám – Cô Bắc có hai tiệm nước (bán cà-phê, hủ tiếu) chéo góc nhau tây-bắc và đông-nam, góc tây-nam là phông-tên nước công cộng, góc đông-bắc có trường Tư Thục Tiên-Long. Trường nầy rất có uy tín, với ban giáo-sư tên tuổi giàu kinh nghiệm, cỡ tuổi ba mươi mấy trở lên, phân nửa đã già.
Pháp Văn lúc bấy giờ vẫn còn là sinh ngữ chánh; thầy Đồng Văn Nam với dáng người hom hem xổ tiếng Pháp nói với học trò, bắt học trò quỳ gối lia chia nhưng vô cùng tận tụy với nghề nghiệp, luôn luôn tự đánh máy bài giảng (cours) trên giấy pelure phát cho học trò.
Tôi ngồi gõ keyboard bài viết nầy mà hình dung lại cảnh ông phải lụm khụm đánh máy chữ nhiều lần, mỗi lần từng xấp sáu tờ giấy mỏng có lót xen kẽ năm tờ giấy than được dùng đi dùng lại, tôi thấy tội nghiệp cho ông quá. Thầy Hồ Công Mến dạy hóa học cũng là kỹ sư ở Pháp về, đầu tóc bạc phơ, luôn luôn thắt cravate mặc complet màu ngà giống như một Trần Văn Hương.
Thầy Lê Thọ Xuân cao gầy dạy Sử Địa là một học giả vừa dạy học vừa làm quản lý nhà in Maurice in sách cho nhà xuất bản Phạm Văn Tươi nên thân với học giả Nguyễn Hiến Lê, khuyên học trò chúng tôi nên mua cuốn bút ký phóng sự Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê mà đọc.
Thầy Tư Mã Lộ dạy Việt văn chắc cũng gần sáu chục, mặt đen, mang kính cận dầy, rất ngọt ngào với đám học trò, gọi đứa nào cũng bằng con hết. Thầy Phong dạy vật lý tương đối còn trẻ, dáng dấp cao lớn khỏe mạnh. Thầy Đông lai Tây, trắng trẻo, mắt sâu, tóc dợn sóng, dạy Anh-văn sinh-ngữ hai bằng quyển L’Anglais Vivant, sau đó mới đổi qua English for Today theo chương trình mới của Bộ Giáo Dục. Thầy Trần Hiếu Trung dạy vẽ phát họa bằng bút chì, thật chậm và thật kỹ, mỗi tuần chỉ có một giờ làm tôi sốt ruột.
Tôi chỉ lo kẻ ô hình mấy minh tinh Doris Day, Linda Blair, Vivien Leigh, Debbie Raynold, Audrey Hepburn, Jayne Mansfield, và cóp-pi lại bằng màu nước để tặng cho tụi bạn gái trong lớp. (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Thầy dạy nhạc là nhạc-sĩ Văn Lương, tác giả của những bản nhạc Tía Em, Má Em, Anh Đi Giữa Trời Xuân, Thao Thức, Nhìn Theo Xe Hoa, Tiếng Hát Trên Ngàn, Giấc Mơ Không Đến Hai Lần, Tình Không Biên Giới, Người Yêu Của Tôi, Yêu Không Nói, Em Vẫn Là Hoa Khôi Thành Phố, Trăng Với Tuổi Trẻ, v.v. Thầy Văn Lương nhỏ con thôi, vậy mà ông lái một chiếc Harley Davidson đồ sộ, máy nổ rầm rầm, đúng là nghệ sĩ chịu chơi; trong khi những ông thầy khác đi dạy bằng xe tắc-xi, xe xích-lô đạp, xe Mobilette mà thôi.
Dường như trường Tiên Long là một ổ cách mạng, một tiểu tổ đảng phái hay một chi nhánh hội kín làm chính trị, vì cứ lâu lâu lại có một ông thầy biến mất, lâu lâu lại có công an mật vụ xuất hiện ở văn phòng nói chuyện với ông hiệu trưởng rất nghiêm trọng. Một vài thằng bạn trong lớp rõ chuyện nói với tôi là “thầy A, thầy B vô nằm trong Chí-Hòa rồi!” Tôi là đứa vô tư, đầu óc đơn giản, ham chơi hơn ham học, ham làm chuyện nhỏ hơn chuyện lớn, cho nên tôi không mấy quan tâm đến việc làm ngoài lớp học của mấy ông thầy.
Lắm lúc nghĩ lại, tôi nhận thấy việc học hành của tôi gặp nhiều lận đận một phần do tôi khăng khăng nghe theo lời khuyên của các thầy. Thầy khuyên tôi theo ban Toán vì đất nước đang cần nhiều chuyên viên kỹ thuật, trong khi tôi chỉ khá các môn sinh ngữ và văn chương, giống như mấy câu thơ Xuân Diệu tự nói về mình trong tập Thơ Thơ “Hãy biết rằng anh lúc ở trường, Rất tồi toán pháp, khá văn chương. Chàng trai đi học nghe chim giảng, Không thuộc bài đâu, ấy sự thường”. Tôi cũng nghe chim giảng nên trượt vỏ chuối dài dài.
Vỏ chuối hay vỏ dưa hấu cùng với đủ loại trái cây khác trong Chợ Cầu Muối lúc nào cũng nhiều, lối đi trong chợ lúc nào cũng lầy lội trơn trợt. Một thằng bạn cùng lớp học dốt như tôi sống luôn nơi vựa trái cây trong chợ. Nó tên Các, chị nó tên Ánh. Hai chị em học cùng lớp mấy năm đệ lục, ngũ, tứ với tôi. Chị nó có cái mỏ trớt nên nói tía lia, đúng là con gái buôn bán, lanh lợi vô cùng.
Thằng Các và chị nó đều ngủ ghế bố. Ba Má nó thì ngủ trên một cái sạp thấp chũm, trên sạp lại có treo một cái võng. Chiều tan học, Các hay rủ tôi theo về vựa nó ngồi ké bên mép sạp đánh cờ tướng ăn củ sắn non, cam, quít, mận, ổi xá lị. Mỗi lần mẹ tôi cần mua trái cây để cúng hoặc ăn tráng miệng, tôi giành mua, ba má thằng Các bán rẻ cho tôi.
Mặt tiền Chợ Cầu Muối xây ra đường Nguyễn Thái Học, cũng là một đại lộ với bóng cả cây già. Tháng cận Tết, các vựa dưa hấu cất lấn ra chiếm hết lề đường, và lan dài ra gần tới Trần Hưng Đạo. Đối diện với Chợ Cầu Muối là Trường Trung Học Tư Thục Bồ Đề ba tầng lầu chiếm một góc của ngã tư Nguyễn Thái Học với Nguyễn Công Trứ.
Kế bên trường Bồ Đề là trường dạy nhạc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, tiếp theo là một dãy tiệm chạp phô bán đồ khô của người Tàu, lâu lâu bị đám học trò nghịch ngợm đi ngang qua bóc một nhúm tôm khô hay mấy quả táo tầu đựng trong các bao bố để sát lề đường. Đường Nguyễn Thái Học chấm dứt ở ngã ba Bến Chương Dương dưới chân Cầu Ông Lãnh và Chợ Cá.
Tôi không nhớ lý do tại sao có nhiều lần tôi lội vô Chợ Cá nhầy nhụa nầy. Nhưng tôi dám chắc một điều là không phải tôi đi cua đào, mặc dầu tôi biết rành câu ca dao “Trai khôn tìm vợ chợ đông, Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân“. Tôi lội vô Chợ cá Cầu Ông Lãnh chắc là chỉ vì theo một thằng bạn học nào mua cá, hoặc là để thỏa tính phiêu lưu thôi.
Tôi xuống các ghe chành chở đầy cá từ Biển Hồ Nam Vang về đậu san sát mấy hàng dưới con rạch Bến Nghé để cung cấp cá cho các vựa chánh bán sỉ trong chợ. Từ đó cá được lựa ra và chứa trong những thùng tròn lớn bằng thiếc để phân phối lại cho các bạn hàng buôn bán lẻ. (Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)
Cá Biển Hồ to lớn hơn cá ruộng đồng Tiền Giang quê tôi. Nhiều con cá lóc bự bằng cổ chân người lớn, một bàn tay cầm không giáp vòng. Mỗi ghe cá chứa hàng mấy ngàn con dưới lòng ghe có ba ngăn, bên trên lót ván làm sàn có chừa nắp làm chỗ thòng vợt xuống vớt cá. Con nào con nấy khi được vớt lên đều sứt đầu vỡ trán chứng tỏ chúng không ngừng tung mình tìm cách thoát thân.
Trong loạt bài phóng sự kể chuyện thăm lại Sài Gòn, tác giả Nguyễn Tường Phong có kể sinh hoạt buổi sáng sớm của khu lao động đó như sau:
Với lòng phấn khởi, tôi tà tà thả bộ (từ khách sạn đang trú ngụ) ra khu Cầu Ông Lãnh tìm ly cà phê buổi sáng xem dân tình thế sự. Trên hè đường, lác đác vẫn còn một vài bạn hàng căng ghế nằm ngủ trước những khu cửa tiệm mở cửa trễ. Trái cây sắp vào mùa, chiếc xe ba bánh của cặp vợ chồng trẻ bên đường chất lớp lớp những trái măng cầu xiêm trên lớp rạ tỏa mùi thơm ngát. “Mua đi anh Hai, mười lăm ngàn một ký.” Chị vợ mời.
Nhìn những trái măng cầu xanh tươi chín mộng, có trái hơi nứt ra khoe thớ thịt trắng phau. Tôi nuốt nước miếng: “Dạ cám ơn” rồi hướng về ngã tư Ký Con, Nguyễn Thái Bình. Chao ơi, thật đúng Sài Gòn năm xưa của tôi. Thiên hạ, đa số là dân lao động thợ thuyền, dân làm ăn, xe ôm… đầy trên các bàn thấp quanh những sạp đồ ăn và các xe cà phê trên vỉa hè. Tôi xà xuống chọn cái ghế trống giữa đám đông ngay sau một trạm sửa máy xe nơi góc đường gọi một ly cà phê sữa nóng.
“Nóng đấy nhé cô hàng, thật nóng cho tôi.” Sự thật là tôi phải giữ gìn mồm miệng trong khi ăn uống để tránh cảnh ôm quần mà chạy. Không tuyệt vời nhưng đúng ý, tôi cảm thấy vị cà phê trong hơi nóng còn đang bốc khói. Xem nào, trước mặt tôi là sạp “cơm bụi.” Năm ngàn đồng một dĩa cơm gồm hai nửa cái giò heo kho tàu, trái trứng “dzịt” và một gắp đầy đồ chua rồi chan thêm nước mắm pha kiểu Sài Gòn ngòn ngọt cay cay.
Hình ảnh vài bạn hàng căng ghế nằm ngủ thật chẳng khác với hình ảnh tôi chứng kiến gần nửa thế kỷ trước của hai chị em thằng bạn học tên Các sống trong vựa bán trái cây Chợ Cầu Muối.
Sau trận hỏa hoạn cuối năm 1969, Chợ Cầu Muối được xây dựng lại khang trang hơn và ngăn nắp hơn, nhưng dường như nếp sinh hoạt và đời sống của người dân quanh chợ vẫn không thay đổi. Xe ba gác đã thay cho xe thổ mộ, nhưng con người lao động, lời gọi chào, lối xưng hô, hàng quán bên vĩa hè, ly cà phê, dĩa cơm bình dân vẫn như dạo nào, thật đúng là Sài Gòn năm xưa của tôi như tác giả Nguyễn Tường Phong đã thốt lên.
(Sài Gòn niềm nhớ/ Phan Hạnh)