“Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ”
(Vũ Đình Liên)
(Bài viết post trên FB HÔI AN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU



*
Khi rời xa phố cổ Hội An cho đến nay đã sáu thập niên, không thể ngờ quãng thời gian dài đằng đẵng của một đời người. Trong sáu thập niên đó, thỉnh thoảng tôi trở về thăm chốn xưa chỉ một, hai tuần lễ.
Nơi đây với nhiều kỷ niệm của thời trai trẻ, cũng như nhiều bạn văn, khi xa cố hương, trong thơ văn từng chia sẻ nỗi niềm về chốn cũ trong tâm khảm.
Năm 2016, tôi viết bài Phố Cổ Trường Xưa & Bóng Dáng Nhà Thơ:
“Trong hai thập niên, vào giữa thập niên 1950 đến thập niên 1960, nơi phố cổ Hội An, các cựu học sinh trường trung học Trần Quý Cáp yêu thi ca và đi vào con đường nầy từ ngày ở mái trường cho đến tháng ngày tha hương nơi xứ người…”. Trong bài viết đã liệt kê những nhà thơ cùng thế hệ với nhau, nay đã ra người thiên cổ: Nguyễn Thị Liên Phượng (Nguyễn Nho Sa Mạc), Đinh Trầm Ca (Mạc Phụ), Phùng Minh Tiến, Nguyễn Nho Nhượn, Hạ Đình Thao, Phùng Minh Tiến, Liên Thao (Trần Công Nghị), Vũ Đức Sao Biển (Võ Hợi)… có lẽ còn thiếu sót vì sự cách trở.
Với kỷ niệm xưa, tôi cũng viết các bài về phố cổ từ món ăn đặc sản, Chùa Cầu, những con đường góc phố, dòng sông Hoài (Thu Bồn chảy qua Hội An), lũ lụt, vài thân hữu và người thân trong gia đình… dĩ nhiên theo trí nhớ và thu thập trên internet. Trong âm nhạc và văn chương, tôi đã viết các bài về tác giả, tác phẩm vì cảm thấy gần gũi, dễ cảm nhận.
Trong bài viết Phố Cổ Hội An & Câu Chuyện “Chùa Cầu” của tôi ghi lại khái quát:
“Sông Thu Bồn chảy từ Tây sang Đông, đến Hội An gọi là sông Hoài, có con kênh rộng khoảng 16m, sâu độ vài mét, không dài lắm, chảy vào thành phố (chưa tới đường Phan Chu Trinh, tên cũ là Minh Hương). Trên con kênh nầy bắc ngang chiếc cầu gọi là Chùa Cầu nối liền hai con đường, phía tây trước kia là Khải Định, đường Duy Tân, ngày trước đoạn phía Tây gần chùa Cầu có nhà in/hiệu sách Đại Đồng và phía đông đường Khải Định – Pont Japanais (đường Cầu Nhật Bản), vào thập niên 1940’ mang tên đường Nguyễn Huệ (Theo tài liệu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia IV (Đà Lạt) ngày 23/5/1955, (đoạn từ Chùa Cầu đến chợ Hội An) sau đó là đường Cường Để. Đây là con đường chính của phố cổ, với người Minh Hương đã xây dựng các hội quán: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ, Hội quán Triều Châu (chùa Âm Bổn), miếu Quan Công…
Ngày trước con đường nầy từ Chùa Cầu xuống chợ Hội An có các hiệu sách: Nam Ngãi, Trương Kim Điền, Bình Minh, Rạng Đông… Nhiều nhà có “tủ sách gia đình” và chủ nhà sách tử tế cho đọc “cọp” nên thời học sinh thường lai vãng. Các con đường rất hẹp, có nhà văn ví von “Đứng bên nầy lề đường bắt tay bạn bên kia lề đường” để mô tả những con đường ở trung tâm phố cố. Những ngôi nhà lợp mái âm dương hàng trăm năm đã phủ rêu phong tạo nên nét cổ kính.
Với chiều ngang từ đường Bạch Đằng (cạnh dòng sông) về hướng Tây có đường Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt.
Câu nói “Thượng Chùa Cầu, hạ Âm Bổn” trong dân gian để ám chỉ chiều dài của phố cổ khoảng 700m. Đây chỉ là quãng đường ngắn so với chiều ngang của thành phố chạy dài từ ngã ba Tin Lành, nơi tiếp giáp tỉnh lộ Vĩnh Điện – Hội An đến cuối đường Phạm Hồng Thái.
Đường Duy Tân và đường Cường Để, tiếp giáp nhau bởi Chùa Cầu, sau năm 1975 đổi thành Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú. Đường Cường Để coi như ở giữa của những con đường theo chiều ngang (Đông, Tây) và chiều dọc (Bắc, Nam). Sau năm 1975, quy hoạch phố cổ trong chu vi hẹp bởi các con đường Trần Phú đến Trần Quý Cáp và Bạch Đằng đến Trần Phú vì trong diện tích nầy có nhiều ngôi nhà, hội quán… được hình thành thời xa xưa, được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa thế giới năm 1999.
Hội quán Triều Châu của người Minh Hương thường gọi là Chùa Ông Bổn hay Âm Bổn trên đường Cường Để. Không biết ai đặt tên trường Âm Hồn Bà Rơi là tiền thân của trường trung học Trần Quý Cáp, thành lập năm 1952…
Về lịch sử Hội An đã có nhiều bài đề cập từ khi hình thành cho đến nay với nhiều tên gọi khác nhau: Hải Phố, Hoài Phố, Hội Phố, Hoa Phố, Haiso, Faifo…. Hội An trước khi trở thành thương cảng của xứ Đàng Trong (thế kỷ XVI-XVII, cũng đã là thương cảng lâu đời của vương quốc Chămpa, với Lâm Ấp Phố và Sài Phố)…
Khi đọc hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn (nhà thơ Hoàng Phong Linh ở Úc) chỉ đề cập đến quãng thời gian ngắn trong gia đình và nơi cố hương ở làng Kim Bồng giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau trên quê hương! Khi email trò chuyện với anh, không ngờ quê nội của anh và tôi chỉ cách nhau nhánh sông nhỏ.
Quê nội tôi nằm dọc theo tả và hữu ngạn ven sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An.
Thuở còn đi học, nghe thân phụ nói thủy tổ dòng họ Trần ở Thanh Hóa vào thế kỷ 16 trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh dưới đời nhà Lê. Nguyễn Hoàng đến cầu viện Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với lời khuyên “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Từ đó Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn sau đó đã biến Đàng Trong, phía nam đèo Hải Vân thành một vùng tự trị mới, dinh trấn Quảng Nam và Thanh Chiêm nơi đặt dinh trấn. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Bao gồm bao gồm 2 phủ và 2 châu.
Phủ Thăng Bình bao gồm các huyện Diên Phước, Lễ Dương, Duy Xuyên, Hòa Vang, và Hưng Phước. Phủ Tam Kỳ bao gồm các huyện Hà Đông, Phú Xuân, An Túc, và Lễ Nghĩa.
Châu Quế Sơn bao gồm các huyện Quế Sơn, Hiệp Đức, và Tiên Phước. Châu Hà Đông bao gồm các huyện Giang, Tây, và Nam Giang.
Thời Việt Nam Cộng Hòa, vào giữa thập niên 1950’, tỉnh Quảng Nam chưa tách ra thành tỉnh Quảng Tín nên rất rộng, bao gồm các quận: Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang, Hòa Tân, Hiên Giằng, Quế Sơn, Phước Sơn, Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước, Trà My và thị xã Hội An (cũng là tỉnh lỵ).
Trong bài viết về nhà thờ tộc Trần hiện nay ở Thanh Chiêm “Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam… Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp nhánh sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.
Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn. Tả ngạn với các làng nay thuộc xã Điện Phương, Điện Bàn và hữu ngạn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước)…”.
Thuở đó, Thanh Hóa ở bên kia vĩ tuyến nên chẳng để ý đến cội nguồn của dòng họ Trần của những thế kỷ xa xôi.
Thân phụ tôi là nhà nho, giỏi phong thủy, rời ra quê. Theo dòng Trường Giang vào Chợ Được, Phước Ấm, phủ Thăng Bình vào thập niên 1920’ lập nghiệp dạy chữ Nho.
Trong bài viết Trường Giang, Dòng Sông Quê Hương của tôi: “Sông Trường Giang (trùng tên con sông lớn bên Tàu) dài khoảng 70km, chạy dọc theo duyên hải tỉnh Quảng Nam. Đầu sông phía Bắc từ Cửa Đại, hướng Bắc thành phố Hội An, tiếp nối hạ lưu sông Thu Bồn, chạy dài theo huyện Thăng Bình, qua các xã Bình Minh, Bình Dương, Bình Triều, Bình Đào, Bình Giang và Bình Sa xuôi Nam với sông Tam Kỳ, An Tân rồi đổ ra biển Cửa Lở và cửa An Hòa…
Ngày trước dòng sông nầy là tuyến đường thủy huyết mạch, lưu thông thuận lợi cho tàu thuyền lưu thông. Từ Hội An đến ranh giới Bình Đào và Bình Triều, dòng sông rẽ khúc, hẹp lại gọi là sông Đào. Nơi rẽ khúc nầy có “vùng” nước rộng khoảng vài chục hecta, trở thành bến sông của Chợ Được. Vì vậy Chợ Được thuận tiên lưu thông cả đường bộ và đường thủy… Sông Trường Giang thay đổi tên gọi khi chảy các địa phận theo cách gọi của người dân địa phương.
Chợ Được non nước hữu tình, nằm cạnh trũng nước khá rộng khi con sông quẹo trái sang sông Đào. Thân phụ tôi lập gia đình ở đó và từ người chị hai đến tôi, sinh ra và lớn lên nơi nầy. Mẹ tôi buôn bán sạp vải ở Chợ Được qua nhiều thập niên cho đến sau Tết Mậu Thân 1968 vì tình trạng bất an nên dời về Hà Lam, anh trai tôi đang phục phụ trong ngành Cảnh Sát ở Hương An…
Vì vậy tôi đã gắn bó với quê ngoại nhiều hơn quê nội, trong thời kỳ chiến tranh, thỉnh thoảng chỉ ghé thăm và sau năm 1975, chưa lần nào ghé lại!
Hiện nay mồ mả và nhà thờ vẫn còn ở quê ngoại, tháng 5 âm lịch là ngày giỗ song thân và dịp Tết, con cháu các nơi về đoàn tụ cố hương.
Trở lại phố cổ Hội An từ khi bước chân vào trường Trung Học Trần Quy Cáp trong 7 năm của tuổi trẻ. Tuy không học với các ngôi trường trong tuổi thơ nhưng thời đi học cùng với bạn bè thường tụ tập ở những nơi
Thuở đó Hội có nhiều đình làng đã bị thời gian tàn phá, hầu như bị bỏ hoang như Đình Cẩm Phô, ngôi đình cổ nhất, thờ Thành Hoàng, Thánh Mẫu và các vị thần, kiến trúc truyền thống Việt Nam được chạm trỗ bởi các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng.
Đình Ông Voi, theo cách gọi nhân gian vì có cặp tượng voi phục uy nghi trước sân và đạo sắc phong quý giá của triều Nguyễn.
Vài nơi đó, bọn học sinh chúng tôi thường tụ tập với các trò chơi và được “thưởng thức’ các món ăn xôi, chè giá bình dân…
Chùa Bà Mụ, nơi thờ Đức Bảo Sanh Đại, 12 Bà Mụ và các vị thần linh. vị tôn thần được xếp thành hai hàng ngay ngắn, uy nghiêm. Gian còn lại là nơi thờ cúng Thổ Kỳ và Tổ đình Minh Hương cũng bị hoang phế. Trước cổng chùa là khu đất thấp, mùa mưa bị ngập, cũng là nơi tụ tập. Trường Bồ Đề được xây dựng năm 1964-1965 trên nền Chùa Bà Mụ, niên khoá 1965-1966.
Phố cổ Hội An diện tích không rộng nên lúc trẻ cỡi xe đạp ngao du khoảng một giờ hết các con đường và tiếp tục hành trình xuống đường Cẩm Châu đến Cửa Đại.
Hội An yên ắng, trầm mặc, người dân hiền hòa và sống lâu với nhau nên thân thiện. Tuy phố cổ nhỏ hẹp nhưng cũng là cái nôi của âm nhạc. Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo (Societe Philharmonique de FaiFoo) năm 1942. Thuê ngôi tọa lạc tại đường Lý Thường Kiệt ngày nay để làm trụ sở. Sau nầy ngôi nhà người chị thứ bảy của tôi ở đối diện với cổng chính của sân vận động trên con đường nầy.
Khởi thủy hội gồm các thành viên: La Hối (piano); Vương Quốc Mỹ, Vương Quang, La Gin, Trần Can (violon); Lâm Cự (bangio alto, accordion); La Xuân, Thái Chí Hải (bagnio); Lê Văn Miêng, La Thiều (trống); Duy Liễu (saxophone), Văn Bé (trompet), Lan Đài (mandoline)… Nhạc sĩ La Hối cũng dùng trụ sở này mở lớp dạy ký âm, hướng dẫn lý thuyết và thực hành cho thanh niên yêu âm nhạc ở địa phương theo học. Sau đó có Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lê Trọng Nguyễn, Lê Khuê, Hoàng Tú Mỹ, Trương Đình Quang,… Có thể gọi Hội Ái Hữu Âm Nhạc Faifoo là hội tân nhạc đầu tiên tại Hội An. Trong thời điểm nầy có vài nhạc sĩ đã sáng tác. Trong hồi ký của Phạm Duy “Khi gánh hát vào Faifoo tôi còn thấy thanh niên ở đây yêu âm nhạc hơn tất cả thanh niên ở những nơi tôi đã đi qua”.
Trong bài nghiên cứu “Thời Tiền Chiến Trong Âm Nhạc” (tạp chí văn học số 114 ra ngày 1/11/1970 ở Sài Gòn), nhạc sĩ Lê Thương đánh giá cao nhóm tân nhạc Hội An và Hội Yêu Nhạc (Societe Philharmonique), so sánh ngang tầm với những nhóm Tricéa, Myosotis của Hà Nội, nhóm Đồng Vọng của Hải Phòng.
Kể từ nhạc sĩ La Hối, ông thuộc dòng họ La, tộc La có chữ lót để biết thứ bậc: Minh – Hoa – Tường – Doãn – Gia – Vĩnh – Thế – Quang – Việt – Thi – Thư – Bảo – Truyền – Gia… Nhạc sĩ La Hối là La Doãn Chánh (1920-1945). Thế hệ tiếp theo với La Gia… có nhiều nhạc sĩ (tuy không sáng tác) nhưng chơi nhạc, dạy nhạc. Nhạc sĩ La Gia Quảng (gọi La Hối là chú ruột, chỉ sáng tác vài nhạc phẩm nhưng là dương cầm thủ. Sau nầy các người con của ông như La Vĩnh Sơn, La Vĩnh Tài, La Vĩnh Hoàng và La Vĩnh Sanh trở thành những nhạc công).
Với các nhạc sĩ thành danh (tôi đã viết bài) như Lê Trọng Nguyễn (1926-2004), Lan Đài (1926-1982), Trương Duy Cường (anh và vài người em thành lập ban nhạc trong gia đình như Trương Duy Mãnh, Trương Duy Hào… vào những đếm cuối tuần có trăng, ban nhạc chơi trước nhà – tiệm Phi Anh). Ở Hội An thời đó ít có phương tiện giải trí, ngoài các rạp ciné nhưng ít chiếu các phim nổi tiếng. Phương Duy Trương Duy Cường nay đã gần tuổi chín mươi, người viết nhiều bài nhất về Hội An từ thập niên 1940. Cho đến nay.
Giữa thập niên 1950, Hoàng Tú Mỹ (guitar) thành lập ban nhạc có Võ Văn Thọ (cậu họ tôi, mandoline), Trầm Thế Liệu (radio Tường Quang, accordeon), thỉnh thoảng có La Vĩnh Châu (anh rể tôi, ra Hội An tham gia)…
Theo Du Tử Lê, năm 1954 di cư vào học ở Hội An: “Các gia tộc La, Vương, Thái, Trương, Dương cũng có những nhóm riêng. Tuy nhiên, do Hội An là một thị xã nhỏ, mọi người đều quen biết nhau nên nhiều khi mọi người ở những nhóm khác nhau đều có thể chơi chung với nhau trong một chương trình cũng là chuyện thường tình và cho mãi đến các thế hệ kế tiếp cũng vậy”…
Gần bảy thập niên trôi qua, những hình ảnh và khuôn mặt trong giới âm nhạc nơi phố cổ vẫn còn in sâu trong tâm trí. Thời còn học ở trung học Đệ Nhất Cấp, tôi thích rong chơi, đá banh và cũng thuộc loại “thứ ba học trò” nên bỏ mất cơ hội thụ giáo các vị thầy dạy nhạc! Trong thời gian ở quân trường trên Đà Lạt, trong Thư Viện có nhiều sách về âm nhạc nên tìm hiểu nhạc cổ điển Tây phương, nhạc sử và nhạc lý… Tiếc nuối thời học sinh không theo đuổi lãnh vực nầy!
Nay chỉ còn người chị thứ tư, 94 tuổi cư ngụ tại tiệm thuốc Bắc Nam Xương Đường, bên hông chợ Hội An, góc Trần Quý Cáp & Bạch Đằng (các anh chị ruột, anh rể, chị dâu đã ra người thiên cổ trong những năm qua). Và với những “bóng hồng năm xưa” đã về cõi thiên thu!
Những người bạn cũ cũng không còn ở lại nơi đây, và nỗi nhớ chỉ còn trang trải qua thơ, văn, nhạc. Cảm ơn các cháu, thế hệ thứ hai và ba thường liên lạc để có cơ hội sống với thời quá vãng.
Little Saigon, June 2026
Vương Trùng Dương