
Chân dung nhà văn Doãn Quốc Sỹ trên bàn thờ trong lễ tưởng niệm ở chùa Bảo Quang, Santa Ana. (Hình: Thiện Lê)

Chùa Bảo Quang chật kín người dự lễ tưởng niệm nhà văn Doãn Quốc Sỹ. (Hình: Thiện Lê)

Poster in hình bìa các tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. (Hình: Thiện Lê)
SANTA ANA, California (Nov. 01, 2025) – Đông đảo đồng hương, văn hữu, học trò, và bạn hữu vùng Little Saigon, và một số nơi khác, có mặt tại chùa Bảo Quang ở Santa Ana hôm Thứ Bảy, 1 Tháng Mười Một, tiễn biệt ông Doãn Quốc Sỹ, một nhà giáo tận tụy và là một nhà văn chân chính.
Ông qua đời vào ngày 14 Tháng Mười, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, Anaheim, California, thọ 103 tuổi.
Vì là một người vô cùng được kính trọng trong nghề nhà giáo và nghiệp nhà văn, nên tang lễ nhà văn Doãn Quốc Sỹ có rất đông người đến dự, và có thể nói ai cũng bày tỏ thương tiếc cho sự ra đi của ông.
Có mặt tại tang lễ là nhiều văn sĩ, học giả, nhiều người từng là học trò của ông.
Một trong những người đó là Giáo Sư Trần Huy Bích, chia sẻ trước lễ tưởng niệm rằng: “Tôi từng học với thầy Sỹ lúc thầy 29 tuổi và mới ở hậu phương về, thấy được sự hiền hòa và nhã nhặn của thầy, khiến học sinh nào cũng quý mến.”
Ông còn kể lại những lần họp lớp lúc nào mời người thầy đến, “luôn đến thăm thầy hồi ở Houston, rồi khi thầy về California cũng không quên mời thầy đến dự các buổi họp mặt.”
“Thầy luôn hòa nhã và vui vẻ với học trò,” Giáo Sư Bích cho biết thêm.
Giáo Sư Phạm Thị Huê thì cho hay bà không phải là học trò của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhưng biết được nhiều giai thoại từ nhiều học trò của ông. Theo bà, ông coi học trò như con, không chỉ đưa kiến thức về văn chương và triết lý, mà còn đưa cho học trò một lối sống đầy tinh thần cởi mở, biết nhận thức về con người để mở rộng trái tim.
Bà còn nói ông luôn có “đầy niềm vui khi dạy học tại giảng đường, không nghiêm nghị như nhiều nhà giáo khác.”
Về tư cách nhà văn của ông, bà nói: “Có thể nói cụ là một chứng nhân của lịch sử Việt Nam. Văn chương và các tác phẩm của cụ phản ảnh đời sống của người Việt Nam trong thời gian của cụ.”
Với giọng nói như cố kiềm lại nước mắt, bà còn khen ngợi ông am tường văn học Việt Nam, có cuộc sống đầy văn phong, sống như một nhà nho, cũng như luôn sống và thực hành Phật Giáo.
Hội trường tang lễ tại chùa Bảo Quang chật kín người, và có nhiều người lên phát biểu để chia sẻ nhiều điều về nhà văn và nhà giáo Doãn Quốc Sỹ.
Người đầu tiên là Giáo Sư Lê Xuân Khoa, cho biết: “Trong 14 năm bị ngục tù hành hạ, Doãn Quốc Sỹ đã hoàn toàn sống hiến, vượt lên khỏi mọi khó khăn, và đạt được trạng thái an nhiên tự tại.”
“Ông không chỉ mang lại hạnh phúc, bình an cho riêng mình, mà còn làm kẻ thù phải nghiêng đầu thán phục,” ông Khoa nói thêm.
Ông còn kể một kỷ niệm mà đến giờ vẫn nhớ là lúc về Việt Nam để thăm Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục nhưng không biết nhà ông, nhưng được nhà văn Doãn Quốc Sỹ chở đi bằng xe mobylette để đến thăm vị giáo sư.
Cuối cùng, ông nói: “Tôi xin cầu nguyện vị Bồ Tát cho kẻ sĩ, nhà văn, nhà giáo, và thiền sư Doãn Quốc Sỹ sớm về cõi vĩnh hằng, nơi miền cực lạc.”
Giáo Sư Trần Huy Bích cũng nói về nhiều đức tính của nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, rồi có đôi lời tiễn biệt người thầy: “Thầy dạy cho em văn chương chữ nghĩa rất nhiều, nhưng để trả lại thầy thì chúng em ít chữ không dám có nhiều lời, chỉ xin 14 chữ là ‘Dân tộc lưu danh trang quốc sỹ, văn chương in dấu bậc hiền nhân.”
Một thân hữu khác của nhà văn Doãn Quốc Sỹ là nhà thơ Đỗ Quý Toàn, nhắc đến hai chữ mà ông Sỹ hay nói là “thế đấy,” khi nói về thái độ không oán trách và không thù hận của ông sau nhiều năm bị ngục tù. Nhà thơ còn nói về cách cố nhà văn suy nghĩ về những thay đổi trong cuộc sống và xã hội, và chỉ nói “thế đấy” khi được hỏi ý kiến.
“Cả đời ông, ông ấy nhìn đời chỉ bằng hai chữ ‘thế đấy,’” ông Toàn nói.
Sau đó, ông còn nhắc đến các triết lý của Phật Giáo trong hai chữ “thế đấy,” nói về cái nghiệp của con người, cho hay nhà văn Doãn Quốc Sỹ luôn chấp nhận “thế đấy.”
Nhà văn Cung Tích Biền cho biết ông Doãn Quốc Sỹ là một nhà văn tiên phong, gầy dựng nền văn chương học thuật của VNCH, một nền văn chương, âm nhạc và hội họa rực rỡ một thời, từ năm 1954 đến năm 1975.
Ông nói nhà văn Doãn Quốc Sỹ có một nền học vấn vững vàng, uyên thông, và có tư cách đạo đức gương mẫu, và cảm thấy rất may mắn khi được “cụ Doãn” nhận như là một người em, lại học được ở ông rất nhiều vì từng trải qua một cuộc sống gay go của dân tộc, đi qua nhiều thời đại.
“Tôi đứng ở đây là bậc hậu sinh, được may mắn đứng để mạo muội đôi điều về cụ. Nếu có cái gì mà sai thì cụ bỏ qua dùm,” ông chia sẻ.
Những người không phải trong giới văn sĩ cũng lên phát biểu, bày tỏ tình cảm dành nhà văn, trong đó có nữ tài tử Kiều Chinh. Bà cho biết tang lễ của ông là “hồng tang” vì được phù hộ cho có cuộc sống ở trần thế đến 103 năm, và rất xúc động khi được nghe những lời phát biểu từ các bậc tiền bối.
“Tôi rất xúc động vì trong chúng ta đã có một nhà giáo tận tụy, một nhà văn chân chính, một nhà tri thức,” bà nói.
Bà chia sẻ rằng bà không có nhiều kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhưng những năm gần đây được gặp ông tại những sinh hoạt trong cộng đồng, vẫn cảm động khi nhớ đến hình ảnh ông Doãn Quốc Hưng, con trai ông, đẩy xe lăn cho cha, và bà Doãn Thị Cẩm Liên, con gái ông, lo từng miếng ăn cho thân phụ.
Nhà báo Nguyễn Văn Khanh, đại diện Gia Đình Sư Phạm, cho biết có nhiều lý do để cộng đồng đến dự tang lễ, nhưng lý do lớn nhất là ai cũng yêu quý ông Doãn Quốc Sỹ. Ông Khanh nói ông rất may mắn được là học trò của nhà giáo và nhà văn, là một vinh dự lớn nhất của cuộc đời.
“Cái chữ ‘buôn’ là cái chữ lớn nhất mà ông dạy cho chúng tôi, nhưng mà trong suốt thời gian mà chúng tôi học ông ở Sư Phạm Sài Gòn, ông dạy cho chúng tôi cái ‘giữ’ như ‘Gìn Vàng Giữ Ngọc.’ Ông bảo với chúng tôi mình là người Việt Nam thì phải yêu nước Việt Nam, phải biết được vai trò của người Việt Nam. Đó là cái ‘giữ’ như khi ông viết ‘Gìn Vàng Giữ Ngọc’ và ‘Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều.’ Đó là những gì chúng tôi học được từ ông Doãn Quốc Sỹ,” ông Khanh trình bày.
Sau đó là nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người được nhà văn Doãn Quốc Sỹ coi như trong gia đình, cho biết: “Những người bạn từng ở tù với cụ Sỹ chứng kiến được một nhân cách ‘thế đấy’ vì ông sống ung dung, tự tại. Cái đói không làm cụ khó chịu, cái nóng không làm cụ than thở.”
“Cái thái độ sống thanh thản không bị ngoại cảnh tác động đó kẻ thù mới sợ. Không lên án, không chửi rủa, không chỉ trích, mà dửng dưng,” ông Thái nói.
Ông Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội.
Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Khi nhận thấy bản chất Cộng Sản của tổ chức này, ông rời bỏ kháng chiến. Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954, Hiệp Định Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song: Một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”
Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).
Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.
Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…
Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.
Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.
Đến năm 1995, ông bà được con trai Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Mỹ và định cư tại Houston, Texas; về sau ông về ở tại thành phố Garden Grove, Orange County, California.
Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).
Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…
Poster in nhiều bìa sách của ông được đặt trước hội trường tang lễ để ai cũng có thể nhìn lại, và bây giờ có thể nói cộng đồng sẽ càng quý những tác phẩm văn chương đó hơn.
THIỆN LÊ