CÒN CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ.





Thời gian tôi ở Pleiku là vào khoảng những năm đầu của thập kỷ 1970. Tôi không thường xuyên ở đó, mà có những chuyến đi xa đến những vùng khác ở Tây nguyên, như Kontum, Buôn Mê Thuột, Quảng Đức, Phú Bổn… và những vùng biển thuộc duyên hải miền Trung như Nha Trang, Phú Yên, Bình Định…
Pleiku vào những năm ấy chỉ là một thị xã nhỏ của chiến tranh, tuy Quân đoàn 2 đặt Bộ chỉ huy ở đó, nhưng phố núi Pleiku không sầm uất bằng thủ phủ của Tây nguyên là Buôn Mê Thuột. Trừ nhà cửa và những con đường thuộc những khu trung tâm, như khu vực rạp hát Diệp Kính, rạp hát Thanh Bình, khu Phan Bội Châu, khu chợ Nhỏ, chợ Mới, bến xe… còn tương đối. Ngoài những khu ấy nhà cửa lèo tèo, đường xá lổn nhổn.
Đất Pleiku ngày xưa là đất núi lửa bazan, mùa nắng thì bụi đỏ mù trời, mái tôn của những ngôi nhà thấp phủ một lớp bụi đỏ. Mùa mưa thì mưa dầm sùi sụt cả tuần lễ, đất đỏ và bụi đỏ biến thành lớp đất sét nhão nhoẹt, trơn trượt, dính còn hơn kẹo kéo, đến như đôi giày botte de saut của lính còn chịu không thấu, huống chi là những đôi giầy, đôi guốc tiểu thư.
Nói đến Pleiku xưa mà không nói đến cafe, quán cafe, là một thiếu sót lớn. Cafe Pleiku ngon, có quán cafe Dinh Điền ngon nổi tiêng, và Pleiku xưa có rất nhiều quán cafe. Những khi tôi về phố Pleiku, rảnh rỗi thường ngồi quán nhâm nhi ly cafe với một cuốn sách… Tôi đã đọc Saint Exupery, Camus, Gide, Hemingway… ở những quán cafe đó.
Pleiku từ ngày xưa cho đến tận bây giờ vẫn không phải là một nơi đến của khách du lịch. Ngày xưa Pleiku được biết đến có lẽ là qua những tin tức chiến sự, và qua một bài thơ của nhà thơ lính chiến Vũ Hữu Định, đã được nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc:
Phố núi cao, phố núi trời gần.
Phố xá không xa nên phố tình thân.
Đi dăm phút đã về chốn cũ,
Một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng…
Em Pleiku má đỏ môi hồng,
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông.
Anh khách lạ đi lên đi xuống,
May mà có em đời còn dễ thương…
Để cuối cùng thì:
Mai xa lắc trên đồn biên giới,
Còn một chút gì để nhớ để quên…
Ngày xưa có một người bạn khi nghe bài hát ấy đã nói với tôi, cái chút gì để quên nhiều khi còn “kinh khủng” dằn vặt ta nhiều hơn chút gì để nhớ…
“Em Pleiku má đỏ môi hồng…” có lẽ không phải là những sơn nữ làng Thượng, những cô gái làng Thượng có nước da sạm nắng gió, và ai đã từng ở trong làng Thượng mới biết những cô gái này không “thơ” như sơn nữ trong thơ, trong nhạc.
Có lẽ những ai đã ở Pleiku vào khoảng đầu thập niên 1970 như tôi chắc còn nhớ Trường Nữ Trung Học Pleime ở thị xã Pleiku (một tên gọi rất Tây Nguyên, bây giờ tên Pleime không còn nữa). Những cô nữ sinh tan trường với áo dài trắng, khoác bên ngoài là chiếc áo len đủ màu. Những cô gái có nước da trắng hồng, và đôi má đôi môi đỏ như son. Đấy mới là những cô gái Pleiku má đỏ môi hồng trong thơ Vũ Hữu Định.
Những ngôi nhà rông ngày xưa trong làng Thượng trông khác hẳn hình ảnh ngôi nhà rông nơi khu du lịch ở Pleiku ngày nay. Trông ngôi nhà rông mới mẻ nhiều màu sắc này như một món đồ chơi do những người thợ thủ công mỹ nghệ làm bán cho du khách mang về làm kỷ niệm. Trông nó đỏm dáng thành thị chứ không mộc mạc như núi rừng Tây Nguyên..
Tôi ở Pleiku, Kontum trước năm 1975, từng ăn ngủ trong những làng Thượng cả tháng trời, may mắn có lần được tham dự vào lễ đâm trâu, lễ bỏ mả của họ. Người Thiểu số Tây Nguyên có tục khá lạ là lễ bỏ mả người thân. Khi mất người thân được chôn cất ở một nơi cách xa làng, người chết được chia của cải trong nhà như nồi niêu, ghè rượu…
Ngôi mả được dựng những pho tượng gỗ đủ mọi chủ đề bao quanh, những pho tượng này do chính những người trong gia đình, trong làng đẽo bằng rìu, rựa, còn nguyên những nhát đẽo, tượng rất thô và mộc mạc.
Sau một thời gian người thân mất, thường ít nhất là một năm trở lên, người Thiểu số Tây Nguyên làm lễ bỏ mả. Tùy theo hoàn cảnh gia đình giàu nghèo mà người ta ngả trâu, heo, gà mời thày mo cùng người làng ra mả cúng.
Trong lễ bỏ mả họ ăn uống, đánh cồng chiêng, nhảy múa vui vẻ sáng đêm. Sau lễ bỏ mả thì người thiểu số Tây Nguyên tin rằng người chết đã tái sinh vào kiếp khác, ngôi mộ đó sẽ bỏ hoang không còn được thăm viếng, chăm sóc
Ở Pleiku ngày xưa đi ra khỏi thị xã một hai chục cây số là đến những ngôi làng Thượng. Những ngôi làng Thượng này thường nằm ở ven rừng, với những sắc dân Bana, Giarai… Đường dẫn đến những ngôi làng của họ là những con đường mòn đất đỏ, hai bên đường đầy cây cỏ dại, đang đi ta có thể gặp bất chợt một con rắn bằng cổ tay dài cả mét bò băng ngang đường ngay dưới chân.
Khoảng cuối năm đến mùa hoa dã quỳ hai bên con đường mòn đất đỏ như các bạn thấy là hoa dã quỳ nở vàng rực. Lúc ấy mà ta bắt gặp một nhóm chừng dăm bảy cô sơn nữ đeo gùi lên nương rẫy vào một buổi sáng sớm trời còn mờ sương thì cảnh tượng thật tuyệt. Người Thượng quen đi hàng một trên những lối mòn trong rừng, họ không bao giờ đi hàng hai hàng ba như người ở phố.
Con đường đất đỏ quanh co, những bông hoa dã quỳ vàng rực, và một màu xanh của núi rừng mà bạn Marguerite đã chụp vào đầu năm 2016, lại là tất cả những gì quen thuộc tôi còn thấy lại được sau hơn bốn mươi năm ở một phố núi…
Không hiểu sao cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ những câu thơ của một tác giả cũng là một người lính Tây Nguyên ngày xưa (đọc trên tạp chí Văn bấy giờ) nhưng tôi lại quên mất tên tác giả:
Ở đây lâu riết ta thành Thượng
Giống Thượng lai căng chẳng nhớ rừng
Giống Thượng bỏ gùi đeo súng ống
Xuân về nhớ gốc nhớ bâng khuâng.
Những câu thơ bốn mươi năm rồi tôi vẫn còn nhớ, có lẽ lúc bấy giờ tôi đã nhìn thấy hình ảnh của mình trong những câu thơ ấy chăng? (Sài Gòn niềm nhớ/ Phạm Ngọc Hiệp)