
I. BÀI THƠ CHẲNG CHIẾN CHINH MÀ CŨNG LẺ ĐÔI
Du Tử Lê viết bài thơ Chẳng Chiến Chinh Mà Cũng Lẻ Đôi vào tháng 02.1990. Ông tâm sự rằng, ông viết nó khi thấy tình trạng đổ vỡ gia đình của cộng đồng người Việt tại Mỹ ngày một gia tăng.
Chẳng Chiến Chinh Mà Cũng Lẻ Đôi
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
chim về góc biển. bóng ra khơi
lòng tôi lũng thấp, tâm hiu quạnh
chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
buổi chiều chăn, gối thiếu hơi ai
em đi để lại hồn thơ dại
tôi, vó câu buồn sâu sớm mai.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
em còn gương lược dấu đường ngôi?
nằm mơ thấy tóc thơm vai hẹn
và, khoảng trời xanh đến rợn người.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
bàn tay dư mấy ngón chia phôi
(tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn)
và những tàn phai đầy tuổi tôi.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
như trời nhớ đất (rất xa xôi)
nắng mưa nhớ mãi hàng hiên đợi
thư nhớ hồi âm. lệ nhớ môi.
(phần thêm)
chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
nói gì kiếp khác với đời sau
đôi khi nghe ấm trên da, thịt
như thể ai đi mới trở về.
******
I.1. CHẲNG CHIẾN CHINH MÀ CŨNG LẺ ĐÔI
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
chim về góc biển. bóng ra khơi
lòng tôi lũng thấp, tâm hiu quạnh
chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi.
Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời, khẳng định, đây là nỗi nhớ lớn lao nhứt, và chỉ có một trong đời.
Những dấu câu, được đặt rất ngang nhiên, rất tự do, không tuân theo bất kỳ một quy định nào về ngữ pháp và chánh tả từ trước đến nay, là một dấu hiệu dễ nhận dạng nhứt cho việc nhìn ra, đâu là sáng tác của Du Tử Lê.
Các dấu câu này, thường chẻ một dòng ra làm hai, thậm chí làm ba, nên với tôi, đây chính là một thủ thuật, một phương thức ngắt nhịp mà Du Tử Lê định hướng cho người đọc, ngoài ra, nó còn đóng vai trò như một phép liệt kê, phép phân loại, ngắt ý.
Chia nhỏ như vậy, nhưng thơ Du Tử Lê không rời rạc, mà trái lại, thơ ông rất giềng mối, rất chắc chắn, liên kết rất chặt chẽ giữa câu này với câu kia, giữa ý này với ý nọ.
Chim về góc biển, gợi sự lùi lại, cam chịu trong cô đơn. Bóng ra khơi, gợi sự xa xăm, mất dấu. Hình ảnh chia lìa đôi ngả này khiến khổ thơ đượm màu buồn.
Chia ly, khiến tâm hồn tác giả giờ đây trũng xuống, thăm thẳm, như vực sâu vắng lặng, trống trải và lạnh lẽo muôn bề.
Nỗi buồn của nhân vật chính, không xuất phát từ ngoại cảnh, từ hoàn cảnh bên ngoài, từ chiến tranh, mà nỗi buồn đến từ sự lẻ đôi, sự chia lìa, tan tác.
******
I.2. CHỈ NHỚ NGƯỜI THÔI ĐỦ HẾT ĐỜI
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
buổi chiều chăn, gối thiếu hơi ai
em đi để lại hồn thơ dại
tôi, vó câu buồn sâu sớm mai.
Nỗi buồn từ tình yêu tan vỡ, không là nỗi buồn của một sớm một chiều. Nỗi buồn ấy kéo dài đến hết cả một đời. Nỗi buồn ấy muôn niên, vĩnh cửu.
Nỗi buồn trong thơ Du Tử Lê, không chỉ là trạng thái cảm xúc, mà nó đã hóa thành định mệnh của đời người.
Khi chia lìa, không chỉ là đôi tâm hồn, đôi trái tim thấy thiếu vắng nhau, mà là xác thân, chăn gối cũng nhận ra sự trống trải đến vô cùng ấy.
Người đi, mang theo tất cả. Nếu còn gì cho người ở lại, thì đó chỉ còn là sự thơ dại. Sự ngây thơ, khờ khạo, ngơ ngác trước sự thay đổi hết sức bất ngờ của tình yêu.
Và tác giả, bắt đầu từ sớm mai, đã tràn ngập một nỗi buồn rất sâu, rất sớm. Sớm, vì nỗi buồn như vó câu, như vó ngựa, như vó ngựa phi, phi nhanh hết tốc lực.
******
I.3. NẰM MƠ THẤY TÓC THƠM VAI HẸN
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
em còn gương lược dấu đường ngôi?
nằm mơ thấy tóc thơm vai hẹn
và, khoảng trời xanh đến rợn người.
Nỗi nhớ trong bài thơ nào chỉ là nỗi nhớ, mà nỗi nhớ ấy đã trở thành hơi thở, nỗi nhớ ấy đã trở thành lẽ sống. Sống để mà nhớ. Sống chỉ để nhớ. Nỗi nhớ của tác giả không cần sự hồi đáp, mà tự nó đã làm đầy cuộc sống của ông.
Tác giả nhớ gì? Tác giả nhớ những vật dụng rất bình thường mà một cô gái thường dùng, gương lược. Nhớ đến như vậy, nên ngay cả lúc nằm mộng, ông cũng mơ thấy mái tóc thề ngát hương thơm, xõa trên bờ vai nhỏ ngày nao, mà ông từng hò hẹn, mà người từng thề bồi, nguyện ước.
Giờ đây, tất cả đều đã không còn nữa. Có còn chăng chỉ là nỗi cô đơn, trống vắng đến tột cùng. Màu xanh của bầu trời, màu của hy vọng, giờ đây cũng lạnh lẽo đến rợn người.
Không phải cứ sở hữu một bên, thì mới tồn tại một tình yêu, mà chính nỗi nhớ trong ta, mới cho ta biết, ta có yêu người không, và ta yêu người đến mức độ nào.
******
I.4. BÀN TAY DƯ MẤY NGÓN CHIA PHÔI
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
bàn tay dư mấy ngón chia phôi
(tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn)
và những tàn phai đầy tuổi tôi.
Nỗi nhớ càng đầy, thì sự thủy chung, đương nhiên, với người mà ta nhớ lại càng lớn.
Thiếu vắng em, tác giả bỗng nhận ra, mình dư rất nhiều thứ, ví dụ, những ngón tay trên bàn tay chẳng hạn. Có em, thì tay ấy dùng để vuốt tóc em. Có em, thì tay ấy dùng để đan vào những ngón tay em. Không có em, những ngón tay trở nên lóng nga lóng ngóng, vô dụng, và tác giả đặt tên cho nó là những ngón chia phôi.
Trừ ngón tay (đã lỡ, trót) đeo nhẫn, là ngón tay danh chính ngôn thuận, thì chín ngón còn lại, anh xin dâng hết, tặng em, cùng với nồng nàn trong tàn úa của đời anh, khi mà thời gian sống của anh, giờ đây, không còn bao lâu nữa.
******
I.5. NẮNG MƯA NHỚ MÃI HÀNG HIÊN ĐỢI
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
như trời nhớ đất (rất xa xôi)
nắng mưa nhớ mãi hàng hiên đợi
thư nhớ hồi âm. lệ nhớ môi.
Đớn đau nhưng vẫn vô cùng lãng mạn, hay nói cách khác đi, chia lìa nhưng vẫn rất mực thủy chung, là nét độc đáo trong thơ của Du Tử Lê.
Chỉ nhớ người thôi, thôi ở đây, giữ vai trò nhấn mạnh, duy nhất người, không ai khác nữa, không ai có thể chi phối, không ai có thể làm ảnh hưởng đến như vậy với tác giả, không ai có thể làm cho tác giả phải nhớ đến hết đời như vậy, ngoài em.
Sẵn sàng dành hết cuộc đời này, chỉ để nhớ mỗi em thôi. Nhớ ấy, như trời nhớ đất. Nhớ ấy, như nắng mưa nhớ hàng hiên. Nhớ ấy, như lá thư nhớ hồi âm. Và nhớ ấy, như lệ nhớ bờ môi, chảy qua mặn chát.
Nhớ ấy, không xa xôi, không khó hình dung, không khó tưởng tượng. Nhớ ấy, rất đỗi tự nhiên, như chuyện đất trời, như bốn mùa, quanh năm suốt tháng, không khi nào ngơi nghỉ.
******
I.6. CHỈ NHỚ NGƯỜI THÔI SÔNG ĐỦ CẠN
(phần thêm)
chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
nói gì kiếp khác với đời sau
đôi khi nghe ấm trên da, thịt
như thể ai đi mới trở về.
Nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ trọn đời. Cho đến bao giờ chết, thì nỗi nhớ ấy mới thôi.
Trong câu, chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn, tác giả đã sử dụng phép nói quá. Nhưng đó là một lối nói quá lên rất dễ thương, rất trìu mến. Nỗi nhớ trong thơ Du Tử Lê không chỉ là cảm xúc, mà nó còn là lý do, đủ để bào mòn, đủ để làm cảnh vật thiên nhiên thay đổi.
Nhớ trong đời này thôi, trong kiếp này thôi, mà đến sông kia còn cạn. Huống hồ gì, những lời hứa hẹn, kiếp khác, đời sau, sẽ lại yêu, sẽ lại thương tiếp nối. Điều ấy, thật sự xa vời. Tác giả không cần đến những lời cam kết ngày mai ấy. Với tác giả, nỗi nhớ hôm nay thôi cũng đã quá đủ rồi.
Nỗi nhớ bền bỉ ấy chính là nỗi nhớ của thực tại hiện hữu, không chỉ trong tâm tưởng, mà còn trên cả cảm nhận của thịt da.
******
II. BÀI THƠ KHÚC HẠNH TUYỀN NÚI SÔNG
Bài thơ Khúc Hạnh Tuyền, Núi Sông, được Du Tử Lê viết vào năm 1993, và được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Dòng Suối Trăm Năm.
Dù không đề tặng, nhưng chắc chắn là ông viết bài thơ này cho vợ, viết để ngợi ca vợ, và tạ ơn vợ, bà Phan Thị Hạnh Tuyền.
Bà Hạnh Tuyền, vợ ông Du Tử Lê, vốn là một cô giáo. Bà tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế năm 1974.
Hạnh Tuyền không chỉ là người yêu, người bạn đời, bà còn là người phụ nữ yêu Du Tử Lê nhiều nhất. Bà sống cho ông, sống vì ông, bằng hết cả cuộc đời mình.
Ông mất, đến nay, cũng đã gần được bảy năm. Bà vẫn tiếp tục cố gắng duy trì trang nhà Du Tử Lê. Còn trang facebook chung của ông và bà xưa kia, thì nay vẫn hoạt động đều đặn, với tràn ngập hình ảnh ông, tràn ngập kỷ niệm ông và thơ của ông.
Nên, người hiểu đúng nhứt bài thơ này, và viết ra đầy đủ nhứt về nó, chỉ có thể là bà Hạnh Tuyền. Nhưng có lẽ, người trong cuộc thì thường ngại, thành thử, khúc ca Hạnh Tuyền ấy, khúc ca về núi sông ấy, cứ lặng lẽ, âm trầm cùng tuế nguyệt:
Khúc Hạnh Tuyền, Núi Sông
chẻ đôi sông núi: đêm bưng mặt
ưa quấn khăn vào sâu ấu thơ
chẻ đôi thân thế: mù tăm tích
ta nghĩa trang nào chôn, cất nhau?
chẻ đôi tâm thất: kênh, mương cạn
hương tóc truy tầm vai thất tung
tưởng ai oan khuất vừa quay gót
xương, thịt, đời sau, máu rất buồn
chẻ đôi con gió: cây ly, biệt
tim chấn thương cùng môi tháng, năm
phạt ngang ký ức rừng, thao thiết
dòng suối trăm năm bỗng mất nguồn.
******
II.1. TA NGHĨA TRANG NÀO CHÔN CẤT NHAU
chẻ đôi sông núi: đêm bưng mặt
ưa quấn khăn vào sâu ấu thơ
chẻ đôi thân thế: mù tăm tích
ta nghĩa trang nào chôn, cất nhau?
Bài thơ ngay từ đầu đã đặt ngang hàng bà Hạnh Tuyền với núi sông. Hạnh Tuyền là núi sông. Hạnh Tuyền là trời đất. Bỏ bà ấy ra khỏi Du Tử Lê, khác gì tước đi sự sống của ông ấy.
Viết về tình yêu của mình, trước hết là Du Tử Lê viết về một tình yêu, như bao chuyện tình khác vào thời loạn, nên thường phải chịu cảnh phân ly, ngăn cách, chịu cảnh chia lìa bởi cuộc chiến tranh.
Chiến tranh, nào chỉ đất nước mới phải chẻ đôi, chia đôi non sông, mà chính ông và vợ, cũng như bao lứa đôi khác, cũng bị xẻ đôi y hệt thế.
Yêu nhau, hai tâm hồn, hai thể xác như hóa thành một. Người này đau, người kia cũng nghe đau. Người này buồn, người kia cũng nghe buồn. Chia lìa tình yêu, không phải là chia lìa hai con người tách biệt, mà là chia lìa một thân thể, là chẻ một thân thể ra làm hai mảnh đớn đau.
Đau, nên khóc, bưng mặt mà khóc rưng rức. Hình ảnh ẩn dụ này thiệt hay, thiệt độc đáo. Gán cho đêm có tánh cách như người, khi đau buồn biết ôm mặt khóc. Bưng kín mặt, nên trời vì thế, đã tối, lại càng tối om om.
Thân thể bị chẻ ra làm đôi, nên lạnh. Lạnh thì quấn khăn vào cho bớt lạnh. Một mặt là thế, mặt còn lại, quấn chặt vào để còn dỗ cho mình một giấc ngủ sâu, sâu đến mức, biết đâu, mình có thể trở về được, trốn về được, lánh về được khoảng trời tuổi thơ êm đẹp trong giấc mơ thần tiên ấy.
Nhưng làm gì có giấc mơ nào để về. Tất cả đã trống trơn, không còn tìm thấy, đâu là bến, đâu là bờ. Từ lúc thân thể bị chẻ đôi, tác giả như đã rơi vào một không gian vô định, không phương hướng rồi còn đâu.
Nếu có còn chăng, khi tình yêu bị chia lìa, khi thân thể bị xẻ đôi, là còn một nghĩa trang, còn một nghĩa trang dành để chôn cất mình, chôn cất hai mảnh thân thể của đôi mình, vào nằm sâu trong lòng huyệt mộ.
******
II.2. XƯƠNG THỊT ĐỜI SAU MÁU RẤT BUỒN
chẻ đôi tâm thất: kênh, mương cạn
hương tóc truy tầm vai thất tung
tưởng ai oan khuất vừa quay gót
xương, thịt, đời sau, máu rất buồn
Khi tình yêu bị chia lìa, khác gì đâu, con người bị chẻ đôi tâm thất. Chẻ đôi thân thể, chẻ đôi trái tim, thì làm sao mà sống? Khác gì đâu một cái chết? Chia lìa tình yêu, khác gì đâu, sống mà như đã chết?
Như dòng kênh cạn nước, lúa lấy gì để sống đây? Thân thể bị chia đôi, đến ngọn tóc rồi cũng sẽ bị khô héo theo, lấy gì để lưu giữ hương thơm tình yêu, hương thơm của kỷ niệm một thời, hương thơm của ký ức một thời, quá chừng là tươi đẹp.
Mọi kiếm tìm, nếu có, sau đó, cũng thuộc về vô vọng. Ký ức không có, kỷ niệm không còn, con người biết bấu víu vào đâu để nuôi dưỡng thân tâm?
Chao ôi, bởi thế nên người ta mới thường nói, tình bị chia lìa là tình oan khuất. Tình bị chia lìa là tình rất tội nghiệp, là tình rất đau thương.
Không chỉ đời này đau, không chỉ kiếp này buồn, mà đến muôn vạn đời sau, kiếp sau, tình bị chia lìa ấy, vẫn làm cho bao lần luân hồi, khó mà nguôi ngoai được.
Mới thấy, trước sự nghiệt ngã của chiến tranh, vận mệnh con người mới trở nên hết sức thảm hại, nó nhỏ bé, nó mong manh, nó là những cam phận cho loại thân phận được chăng hay chớ, phó mặc hết vào chuyện rủi may.
******
II.3. DÒNG SUỐI TRĂM NĂM BỖNG MẤT NGUỒN
chẻ đôi con gió: cây ly, biệt
tim chấn thương cùng môi tháng, năm
phạt ngang ký ức rừng, thao thiết
dòng suối trăm năm bỗng mất nguồn.
Tình yêu chia lìa, không chỉ giống như chia lìa thân thể, chia lìa trái tim, mà nó còn giống như con gió, trên đường đi của mình, bỗng bị một thân cây phía trước chặn lại, khiến gió đột ngột phải xé toạc làm hai, một bên này của con gió mang tên ly, một bên kia của con gió mang tên biệt. Ly và Biệt. Đường ai nấy đi. Sống còn ai nấy biết.
Như núi rừng bị ai lấy dao phạt ngang ngọn. Phạt ngang, cắt đứt. Phạt ngang, tàn nhẫn. Như dòng suối mất nguồn. Như trăm năm sống mà thượng đế ban cho con người, dưng không, trong tích tắc, bị đốn ngang, bị chặt phăng, không có lý do, không lời giải thích.
Du Tử Lê mà mất Hạnh Tuyền, thì khác gì trăm năm của ông mất lối về, lối về nguồn, để được luân hồi, để được quay lại nữa, tiếp tục một kiếp mai.
******
III. BÀI THƠ GIỮ ĐỜI CHO NHAU
Tôi không biết chắc chắn số thi phẩm mà thi sĩ Du Tử Lê để lại cho đời là bao nhiêu, nhưng từ Mỹ, bà Hạnh Tuyền, vợ của ông, gởi người mang về tặng tôi bộ Thơ Du Tử Lê (Toàn Tập), với lời đề: Gửi em Phạm Hiền Mây, như một lời cảm ơn của anh chị. Thay mặt anh Du Tử Lê. Chị Hạnh Tuyền ký tên. Cali, Jan 05, 2024. Thì.
Thì mỗi tập với độ dày cỡ năm, sáu trăm trang, chứa khoảng một trăm năm mươi bài cho một tập. Tổng tập như vậy là khoảng sáu trăm bài thơ có.
Sáu trăm bài thơ. Bây giờ, giả sử có người hỏi tôi, tôi thích những bài thơ nào của Du Tử Lê nhứt, thì tôi đành chịu, không biết trả lời sao, vì bài nào của ông cũng hay, mỗi bài hay mỗi vẻ. Như bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông vậy, nếu Xuân có hoa khoe sắc thắm, thì Hạ có nắng vàng biển xanh, và nếu Thu có màu hoàng hôn giữa heo may lành lạnh, thì Đông có bông tuyết, rải trắng một miền xa tít tắp, trắng cả hồn người, trắng cả đời nhau.
Một phóng viên báo nọ thống kê, có khoảng ba trăm bài thơ của Du Tử Lê được phổ nhạc. Nếu con số ấy là có thực, thì tôi cho rằng, Du Tử Lê, có lẽ là nhà thơ có số lượng thơ phổ nhạc nhiều nhất nước Việt Nam.
Như bài dưới đây chẳng hạn, được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Sau Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau và Từ Công Phụng phổ thành ca khúc Giữ Đời Cho Nhau, hay còn một tựa khác là Ơn Em.
GIỮ ĐỜI CHO NHAU
ơn em, thơ dại từ trời
theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
ơn em, dáng mỏng mưa vời
theo ta lên núi về đồi yêu thương
ơn em, ngực ngải môi trầm
cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
dấu quanh quẩn dấu nỗi buồn một nơi
ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Bài thơ được viết năm 1970, khi ấy, ông chỉ mới hai mươi tám tuổi.
Tôi nói, chỉ mới, có nghĩa là tôi ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì trẻ thế, vì thậm chí, chưa vào tuổi tam thập nhi lập, mà đã viết được một bài thơ với những lời lẽ đằm thắm và già dặn đến thế.
Trong tình yêu, ít ai còn trẻ mà biết ơn nhau lắm. Cần phải có một độ dài tương thích về thời gian thì người ta mới có thể, lắng lòng lại, mà nghĩ về, mà tổng kết về những gì họ đã trao cho nhau, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, để rồi từ ấy, mới có thể thốt lên một cách chân thành, sự biết ơn với người yêu, với người bạn đời của mình, với người đã sắt son, nhẫn nại đi bên mình, có khi, đến nửa thế kỷ.
Bài thơ Giữ Đời Cho Nhau là một khúc ca tri ân, là lời trân trọng dành cho tình yêu của nhà thơ Du Tử Lê. Người phụ nữ mà ông tôn vinh ấy, là một người phụ nữ hy sinh cho chồng con trong thầm lặng và rất đỗi dịu dàng. Tình yêu ấy, đã trở thành bến đỗ bình yên cho cuộc đời ông, giúp ông vững vàng đi qua được, giúp ông lèo lái con thuyền của đời mình vượt qua được, những chìm nổi, những bể dâu của sóng gió khôn kham.
******
III.1. ƠN EM, THƠ DẠI TỪ TRỜI
ơn em, thơ dại từ trời
theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
ơn em, dáng mỏng mưa vời
theo ta lên núi về đồi yêu thương
Em thơ dại, em như nàng tiên bước xuống từ trời cao kia. Em thơ dại, em theo ta xuống biển, và khi đời ta chìm lỉm trước cơn giông bão, đời ta dạt trôi, đời ta chơi vơi, em liền có mặt để vớt lên kịp lúc. Ơn em.
Em mỏng manh, em như nàng tiên bước xuống từ trời cao kia. Em liễu yếu đào tơ, em theo ta lên núi, và khi đời ta cần một mái ấm gia đình, cần một sức mạnh tinh thần cho ta được tựa vào, giúp ta vượt qua mọi khốn khó, giúp ta yêu thương và được yêu thương, giúp ta có một nơi chốn đi về bình yên, em liền có mặt để gật đầu đồng ý. Ơn em.
******
III.2. ƠN EM, NGỰC NGẢI MÔI TRẦM
ơn em, ngực ngải môi trầm
cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
dấu quanh quẩn dấu nỗi buồn một nơi
Em mang ngực ngải, em mang môi trầm. Em mang đến cho anh những huyền bí của cuộc đời, và quyến rũ anh bằng tấm tình chân ấy, tấm tình mộc mạc mà rất ngát hương thơm.
Ngát hương thơm của loài cỏ dại. Ngát hương thơm của những phiến lá ngoan.
Ngực ngải, môi trầm, cỏ mặn, lá ngoan, đã cứu vớt, đã vỗ về, đã an ủi đời du tử anh, một cuộc đời long đong, trôi dạt. Ơn em.
******
III.3. ƠN EM, HỒN SỚM NGẬM NGÙI
ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Em là người mang lại ý nghĩa sống cho đời anh, khi anh đang bế tắc trước sự hữu hạn của trăm năm, trước sự vô thường, trước những khổ đau không tránh khỏi từ cõi ta bà này. Em cho anh biết nỗi ngậm ngùi, khi kiếp nhân sinh này, khi tình yêu của chúng mình, chúng rất đỗi mong manh. Ơn em.
Nên anh muốn nguyện ước, với em, giữa trời đất, ngay lúc này đây, ngay chính vào phút giây này đây, kiếp sau xin.
Anh xin ước, kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau. Cho nhau, cả anh và em, chỉ anh và em.
Không còn ai nữa hết ngoài đôi ta, được gặp lại, được yêu thương, như từng đã.
******
IV. CA KHÚC GIỮ ĐỜI CHO NHAU (ƠN EM) CỦA NHẠC SĨ TỪ CÔNG PHỤNG
Khi phổ thành nhạc, Từ Công Phụng không hề bỏ bớt một chữ thơ nào của Du Tử Lê. Ông giữ trọn vẹn bài thơ Giữ Đời Cho Nhau, chỉ thêm vào khổ thứ ba hai câu:
Ơn em, tình những mù lòa
Như con sâu nhỏ bò qua giấc mùi.
Hai câu này của Từ Công Phụng, cũng rất thơ.
Ngoài ra, Từ Công Phụng còn thêm vào những câu điệp sau mỗi đoạn: tạ ơn em / tạ ơn em, nhằm nhấn mạnh lòng biết ơn của tác giả với người đồng hành cùng mình trong cuộc trăm năm.
Ơn em, thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
Ơn em, dáng mỏng mưa vời
Theo ta lên núi về đồi yêu thương
Tạ ơn em. Tạ ơn em.
Ơn em, ngực ngải môi trầm
Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
Ơn em, hơi thoảng chỗ nằm
Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi
Tạ ơn em. Tạ ơn em.
Ơn em, tình những mù lòa
Như con sâu nhỏ bò qua giấc mùi
Ơn em, hồn sớm ngậm ngùi
Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau
Tạ ơn em. Tạ ơn em.
******
V. DU TỬ LÊ VIẾT VỀ PHẠM HIỀN MÂY
Riêng với tôi, nhà thơ Du Tử Lê là ân nhân.
Mười năm trước, năm 2016, khi họa sĩ Khánh Trường, người bạn vong niên thân thiết của tôi, nhờ Du Tử Lê viết Tựa cho cuốn thơ đầu tay, Lục Bát Phạm Hiền Mây, ông ngay lập tức nhận lời.
Ông ngay lập tức nhận lời, cả khi, giữa tôi và ông, chưa từng quen biết nhau. Ông viết lời giới thiệu dựa trên bản thảo thơ do anh Khánh Trường gởi qua.
Bài Tựa Du Tử Lê viết cho cuốn thơ đầu tiên của tôi, có nhan đề: Phạm Hiền Mây, Treo Cao Lục Bát Vàng Son.
Ông viết nhận định về tôi, dài hai trang A4, xin được trích lược vài dòng hầu bạn đọc:
“Hôm nay, tôi xin gửi sự khâm phục của cá nhân tôi vào thi phẩm Lục Bát Phạm Hiền Mây.
Phạm Hiền Mây là người tình chung thủy của lục bát, nên tôi tin, người đọc sẽ không ngạc nhiên lắm, khi ngay từ những vần thơ thứ nhất của thi phẩm Lục Bát Phạm Hiền Mây, đã tươm đậm hồn tính ca dao Việt Nam ngày qua và, những so sánh hay liên tưởng đương đại:
bụi hoa xưa đã lên vài
nhánh vàng cổ tích dốc dài tình nhân
(trích “giữ lời tìm nhau”)
Hay:
mặn em nhỏ xuống chẳng dừng
trên vai anh ướt không ngừng trời mau
mưa nghiêng trút xuống nỗi đau
trái oan khiên chín đỏ au phận người
vết thương chín mọng ngực đời
và em quả chín rụng lời từ ly.
(trích “vô thường nhỡ mai”)
Khởi tự tính từ “mặn” chỉ nước mắt, trên vai người yêu, Phạm Hiền Mây dùng lục bát để dẫn cơn mưa, nỗi đau, đi lần tới “trái oan khiên chín đỏ”, là sự rụng xuống (không thể khác hơn?) của những lời từ ly.
Hoặc nữa:
nắng lâm chung tắt thình lình
chưa hoàng hôn đã một mình niềm riêng
môi vào nhau sớm thần tiên
dậy thì đánh rớt tháng giêng nhớ người.
(trích “tháng giêng nhớ người”)
Bằng vào ghi nhận của tôi, Phạm Hiền Mây không chỉ có khả năng nhân cách hóa một cách bất ngờ mà, họ Phạm còn có khả năng làm mới thơ mình bằng vào những tương tác vi tế mà, nếu không phải là người nữ, tôi e, các tác giả khác, sẽ rất khó cảm và nhận. Thí dụ:
mùa đông, một sớm mùa đông
không dưng em mắt môi nồng tình anh.
(trích “mình yêu nhau nhé”)
Hoặc:
tiễn anh đếm lá hồn mình
(trích “phù du yêu người”)
Hoặc nữa:
tóc dài ngọn hẹn rưng rưng
chờ giây phút được giọng mừng dạ thưa.
(trích “nhớ anh thôi đã rất thừa mùa đông”)
Bên cạnh đó, Phạm Hiền Mây cũng cho thấy chủ tâm khai thép từ kép của Tiếng Việt, để dòng chảy thi ca có được nhịp lẻ, khác hơn nhịp chẵn hay đều (2/2/2 hoặc 3/3) quen thuộc, nhàm chán:
đời em mộng sóng lênh đênh
ướt em giấc ngủ muộn bềnh bồng trôi.
(trích “lênh đênh sóng rồi”)
Vì tính từ “bềnh bồng” là từ kép, không thể tách bạch, nên nhịp đi của câu thơ tám chữ này, với tôi, ít nhất cũng có được cho nó hai nhịp lẻ là:
ướt em / giấc ngủ / muộn bềnh bồng / trôi. (2/2/3/1)”.
(Hết trích)
******
Tôi còn một kỷ niệm nữa, với Du Tử Lê, do chính bà Hạnh Tuyền kể lại: “Anh Lê khen tên em lắm. Anh nói, cái tên Phạm Hiền Mây ấy mà, đọc lên, nghe rất hay, rất thơ.”
Và, thơ tôi, ngay từ khi mới trình làng (cũng như cho đến mãi mãi về sau), tôi không bao giờ viết hoa các chữ đầu câu. Thậm chí, tên riêng, trong thơ, tôi cũng viết thường luôn. Điều này, tôi thừa nhận, tôi chịu ảnh hưởng của các tiền bối Hoàng Lộc, Du Tử Lê, và sau này, tôi mới biết, cả nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng có thói quen như thế.
******
VI. KIẾP SAU XIN GIỮ LẠI ĐỜI CHO NHAU
Bạn có tin, chết không là hết? Bạn có tin, chúng ta sẽ luân hồi và tái sinh? Bạn có tin, trong cuộc đời, có trùng trùng duyên nợ?
Điều này, có lẽ còn phụ thuộc vào tôn giáo mà bạn đang theo. Còn tôi, thì tôi tin. Tôi rất tin.
Tin, để trước hết, biết sợ. Biết sợ sống sai. Biết sợ làm ác. Biết sợ gánh không nổi những tội lỗi mình đã gieo. Biết sợ nghiệp quả, sẽ đến ngay trong cả kiếp này, chớ không chỉ những kiếp mai sau.
Tin, kế tiếp, để tự an ủi mình trong những lúc lên bờ xuống ruộng, lúc đường đời không như ý, không bằng phẳng. Tin, để tự vỗ về mình trong những lúc vất vả, khó khăn. Tin, để tự dỗ dành mình trong những lúc khổ đau, tuyệt vọng. Và tin, để tự biết răn đe mình, khi đã gắng hết sức rồi, mà vẫn thất bại, không may.
Tin, để cuối cùng, biết nuôi hy vọng.
Tôi nuôi hy vọng rằng, tôi sẽ yêu người bằng một tình yêu không thay không đổi. Tôi nuôi hy vọng, người mãi mãi trong trí óc, mãi mãi trong trái tim tôi. Và tôi nuôi hy vọng, lời nguyện xin, lời hẹn ước của tôi, lại được tiếp tục cùng người, sẽ được thượng đế ban cho thành sự thật:
KIẾP SAU XIN GIỮ LẠI ĐỜI CHO NHAU!
Sài Gòn 14.05.2026
Phạm Hiền Mây