CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ_ LẤY MÁU ĐÀO TÔ THẮM SỬ XANH (Nguyễn Phúc An Sơn/Sài Gòn Niềm Nhớ)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

HÀO KIỆT PHƯƠNG NAM

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có

(Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)

May be an image of text that says '0gear DANIIDL AM như niềm จ S ChuẩnTưởng ưởng Chuẩn Lê Nguyên Vỹ (1933 (1933-1975) 1975)'

May be an image of text that says 'COM0 Sài Gòn trong iGòntrongôi tôi Su Doàn Bô Binh Le nhan Anh Dung Boi Tinh tai Khế'

Lễ đón nhận Anh Dũng Bội Tinh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Căn Cứ Lai Khê.

May be an image of text that says 'Sài Gòn trong trong SảiGontrong Gòntrong tôi Can Cu Su Doàn 5 Bô Binh Binh Duong'

Căn Cứ Sư Đoàn 5 Bộ Binh – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Lai Khê, Bình Dương.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ sinh ngày 22/8/1933 tại Sơn Tây, là Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ là một trong những dũng tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quyết không đầu hàng bọn giặc xâm lược từ phương bắc và đã anh dũng tuẫn tiết vào ngày cuối cùng của cuộc chiến Quốc – Cộng 30/4/1975 tại Vùng IV, miền Nam Việt Nam.
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, là anh em họ với Cố Trung Tướng Lê Nguyên Khang, được đánh giá là một người chiến sĩ can trường, quả cảm; một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và là một vị chỉ huỵ có tính bộc trực, thanh liêm, có tinh thần chống tham nhũng. Ông là một trong những vị tướng hiếm hoi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần tự trọng cao độ, và không bao giờ muốn ỷ lại vào sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ.
Năm 18 tuổi, người thanh niên Lê Nguyên Vỹ đã đầu quân theo tiếng gọi non sông và theo học khóa 2 Lê Lợi, đào tạo Trung Đội Trưởng, tại Trường Võ Bị Địa Phương Đệ Nhị Quân Khu (sau này là Vùng 1) ở Huế vào thời kỳ 1951-1952. Sau khi ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, sĩ quan Lê Nguyên Vỹ đã có thời gian phục vụ tại Tiểu Đoàn 19 Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tại Miền Tây Nam Phần mà vị Tiểu Đoàn Trưởng khi đó là Đại Úy Đỗ Cao Trí (thăng đến cấp Trung Tướng vào tháng 11/1963).
Trước ngày ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước tháng 7/1954, sĩ quan Lê Nguyên Vỹ đã theo học khóa Nhảy Dù tại Pháp. Trong thập niên 60, ông đã lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy: đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng. Năm 1969, ở cấp bậc Đại Tá, ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh (BB) Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đến khoảng giữa năm 1971, ông được thăng chức Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 BB. Năm 1973, ông là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 BB. Ngày 7 tháng 11.1973, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB thay thế Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch khi ông còn mang cấp Đại Tá (Gần một năm sau thì ông được thăng Chuẩn Tướng).
Về lại Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Tư Lệnh Lê Nguyên Vỹ đã trở về với đại đơn vị mà ông đã có nhiều năm gắn bó. Trong năm 1969, ông đã chỉ huy Trung Đoàn 8/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã lập được rất nhiều chiến công tại các chiến trường Miền Đông Nam Phần, trong đó, có chiến công của chính ông tại chiến trường An Lộc vào “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”.
Ngày 13-4-1972, bọn cộng sản bắc việt đã tung 3 sư đoàn bộ binh (Công trường 5, 7, 9), có trọng pháo và chiến xa yểm trợ tấn công thị xã nhỏ bé An Lộc. Mở đầu là những trận mưa pháo rót vào thị xã từ nửa khuya. Ðạn pháo nổ liên tục trải khắp thành phố, rung chuyển mặt đất. Người ta không thể ước tính được có bao nhiêu trái đạn pháo của bọn giặc cướp xâm lược từ bắc việt nã vào thị xã nhỏ bé này …
Không kể những vị trí quân sự như Bộ Tư Lệnh Hành Quân/SÐ5BB, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, Bộ Chỉ Huy TrÐ 8 v.v., bệnh viện, trường học, chợ, nhà dân, trung tâm tạm cư cho người di tản từ Lộc Ninh đều bị trúng đạn pháo kích của địch. Cả thành phố chìm trong lửa khói.
Rồi bỗng nhiên địch ngừng pháo. Bên ngoài, trời vừa hừng sáng, những cột khói đen vươn lên cao. Người ta nghe được tiếng máy gầm gừ của đoàn cơ giới tiến vào thị xã. Không! Không thể lầm được! Chiến xa địch đang di chuyển, càng lúc càng gần Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Ðây là lần đầu địch sử dụng chiến xa tại chiến trường miền Ðông và cũng là lần đầu tiên, binh sĩ của ta phải đối phó.
Nhưng lạ thay, các họng súng đại bác trên chiến xa không thấy nhả đạn, địch hình như đang dò tìm mục tiêu, chúng đã mất phương hướng. Một chiếc T54 đang nghiến xích sắt trên mặt đường sát bên hông BTL/Hành Quân. Mọi người, từ binh sĩ tới Tư Lệnh Chiến Trường, đều nín thở chờ đợi.
Bỗng Ðại Tá Vỹ lao ra khỏi hầm, với nón sắt, áo giáp và đặc biệt khẩu súng chống chiến xa M-72 trên tay, theo sau là Trung Úy sĩ quan tùy viên. Tới bờ tường phòng thủ, vừa lúc chiến xa địch vượt qua khỏi cổng chính khoảng 20 mét, Ông quỳ người, giữ tư thế tác xạ, đưa khẩu M-72 lên vai. Người sĩ quan tùy viên kế bên, khom người quan sát. Mọi người trong hầm chỉ huy hồi hộp phóng tầm nhìn qua lỗ châu mai. Một tiếng nổ. Và một luồng lửa đỏ tống về phía sau. Chiến xa địch bị trúng hỏa tiễn, bốc khói nhưng vẫn cố di động trước khi trở thành một khối sắt xám xịt vô dụng bên vệ đường.
Quân sĩ từ trong hầm chỉ huy đổ ra ngoài reo hò mừng rỡ. Bây giờ người ta mới thực sự tin M72 đã bắn hạ chiến xa địch mà suốt mấy năm qua, từ khi được trang bị, chưa có cơ hội tác xạ. Ai ngờ ngày hôm đó, trong cơn nguy khốn, vị Ðại Tá Tư Lệnh Phó chiến trường lại làm nhiệm vụ một khinh binh, đích thân sử dụng M72 triệt hạ T54 của bọn cộng phỉ bắc việt.
Câu chuyện Ðại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa địch lan truyền, tinh thần quân sĩ trú phòng tại Bình Long – An Lộc lên cao… Ðó đây có những báo cáo về Bộ Tư Lệnh, cho biết đã bắn hạ thêm nhiều chiếc khác. Hình như chiến xa địch bị vô hiệu hoá vì không có bộ binh phối hợp, có lẽ do hiệu quả những đợt B52 trải nhiều thảm bom suốt ngày đêm hôm trước.
Sau những đợt hành quân giải tỏa năm Mậu Thân, Ðại Tá Vỹ trở về Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn tại Bến Cát. Thế là, sau khi chỉ huy Trung Ðoàn 9 trên 3 năm, rồi Trung Ðoàn 8 trên 2 năm, Ðại Tá Vỹ đã thực sự dẫn giắt và có công xây dựng thành 2 Trung Ðoàn chủ lực hùng hậu của SÐ 5 BB. Chính Tướng Phạm-Quốc-Thuần, người đã nắm chức Tư Lệnh SÐ 5 hơn 4 năm (có lẽ lâu hơn các vị Tư Lệnh khác) chắc rất hãnh diện và quý mến vị Trung Ðoàn Trưởng này.
Ðổi lại, Ðại Tá Vỹ được địch quân treo giá tính mạng rất cao. Ðể có thể chiêu dụ hoặc thanh toán Ông, địch đã dùng nhiều phương cách, kể cả những mưu toan bẩn thỉu hèn hạ tiểu nhân như bản chất của bọn chúng là ám sát và mỹ nhân kế v.v.
Ðịch còn dùng thủ đoạn khác là lợi dụng tình cảm quan hệ gia đình từ miền Bắc gửi thư cho Ông. Nhưng bọn chúng đã hoàn toàn thất bại và không thể thực hiện được một ý đồ nào. Ông và các quân sĩ thuộc quyền, tiếp tục truy lùng và tiêu diệt những tên giặc cướp xâm lược từ phương bắc, tiếp tục lập thêm nhiều chiến công.
Những trận đánh tại Phú Hòa Ðông, bên kia sông tỉnh lỵ Bình Dương, vòng lên Cầu Ðịnh, Bầu Bàng, Bầu Lòng, qua tận Phú Giáo, hoặc những vụ phục kích trên hành lang di chuyển của địch, bắt sống, hạ sát giao liên – kinh tài, tịch thu vũ khí – tài liệu v.v. khiến những hoạt động khủng bố, ăn cướp, quấy phá của bọn cộng phỉ trong vùng trách nhiệm suy giảm rõ rệt.
Thời gian này, sự kiện đáng ghi nhớ là một lần nữa, Sư Ðoàn 5 Bộ Binh lại được tuyên dương công trạng trước Quân Ðội năm 1969. Tất cả quân nhân từ binh sĩ tới cấp Tướng thuộc Sư Ðoàn hãnh diện được đeo Dây Biểu Chương Bảo Quốc Huân Chương màu đỏ hoàn toàn.
Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Lê Nguyên Vỹ tại căn cứ Lai Khê 1975
Tướng Lê Nguyên Vỹ nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ngày 7/11/1973. Ông nhận chức Tư Lệnh vào thời gian mà bọn cộng sản xâm lược đang gia tăng những hoạt động khủng bố, quấy rối, phá hoại tại các tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long, thuộc vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 BB, Tướng Lê Nguyên Vỹ đã phải đương đầu với hoàn cảnh vô cùng khó khăn, vừa phải lo đối phó ngăn chận các cuộc tấn công CSBV vào các vị trí trọng yếu do Sư Đoàn 5 BB đảm trách, vừa phải lo củng cố và phát triển hiệu năng tác chiến của các đơn vị trực thuộc.
Vị Tư Lệnh cuối cùng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã làm việc không kể giờ giấc ngày đêm. Hết họp bàn kế hoạch hành quân tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, ông lại bay đến các trung đoàn, tiểu đoàn kiểm tra hệ thống phòng thủ, đôn đốc quân sĩ đào chiến hào, đắp công sự chiến đấu và các cụm chướng ngại vật để ngăn chận chiến xa cộng sản khi địch mở cuộc tấn công với xe tăng và bộ binh phối hợp.
Trong ba tháng đầu của năm 1975, sau khi bọn cộng sản bắc việt tấn công cường tập đánh chiếm Phước Long vào tháng 1/1975, Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tái phối trí lực lượng để giữ cụm phòng tuyến Chơn Thành. Đến giữa tháng 4/1975, quận Chơn Thành bị bỏ ngỏ, căn cứ Lai Khê được xem như phòng tuyến tiền đồn.
Trong tình hình đó, vị Tư Lệnh Quân Đoàn 3 lúc bấy giờ là Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn đã bay lên Lai Khê họp bàn với Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ. Trung Tướng Toàn nói với Tướng Vỹ là nên di chuyển Bộ Tư Lệnh về Phú Lợi, Bình Dương, và chỉ nên để một trung đoàn ở lại phòng thủ căn cứ Lai Khê.
Trước ý kiến của vị Tư Lệnh Quân Đoàn 3, Chuẩn Tướng Vỹ trình bày: “Nếu tôi di chuyển đi Phú Lợi, anh em binh sĩ sẽ nói mình “di tản chiến thuật hay sao” Do đó, tôi quyết ở lại Lai Khê sống chết với nơi này.”
Ngày 28/4/1975, Chuẩn Tướng Vỹ chỉ thị cho vị Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh là Đại Tá Trần Văn Thoàn chỉ huy Bộ Tư Lệnh nhẹ Sư Đoàn 5 BB, cùng với Trung Đoàn 8 BB mà Trung Đoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng và Chi Đoàn 3/1 Thiết Kỵ di chuyển về Phú Lợi. Cũng trong buổi sáng ngày 28/4. Tướng Vỹ nói với quân sĩ các cấp: “Các anh em ai có thể cho vợ con đi nước ngoài được thì cho đi, còn các anh ở lại với tôi. Tôi cũng vậy, cùng ở lại bên cạnh các anh.”
Chiều ngày 29/4/1975, sau cuộc họp tham mưu thường lệ tại phòng họp của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, vào 7 giờ tối, các đơn vị của Sư Đoàn 5 Bộ Binh được lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 là phải bỏ Lai Khê di chuyển về Bình Dương. Theo kế hoạch, tất cả quân dụng hư hỏng và giấy tờ không quan trọng phải thiêu hủy tại chỗ. Do đó, tối 29/4, cả căn cứ Lai Khê có từng đám cháy đỏ rực. Cùng với căn cứ Lai Khê, khu vực Phú Giáo ở xa cũng có từng đám lứa như thế do lực lượng phòng thủ tại Phú Giáo cũng di tản.
Lúc bấy giờ, Trung Tá Nguyễn Minh Tánh, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh, được báo tin cộng quân đặt chốt ở xã Mỹ Thạnh phía Nam Bến Cát, ông xin với Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB cho điều động chiến xa đi giải tỏa thế nhưng Tướng Vỹ nói ban đêm khó phối kiểm, để đến sáng sẽ tính. Trung tá Tánh gọi máy về hậu cứ đang đóng tại Trại Phù Đổng (Bộ chỉ huy Thiết Giáp) Gò Vấp hỏi tình hình ở vòng đai Sài Gòn.
Trong điện thoại Trung Tá Tánh nghe cả tiếng súng nổ văng vẳng, và tiếng động cơ của các trực thăng. Trung Tá Tánh cũng được biết Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 3 đã di chuyển về Phù Đổng (Trung Tướng Toàn vẫn kiêm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp khi giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 3 BB thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức sau khi Phước Long thất thủ vào tháng 1/1975).
Trung Tá Nguyễn Minh Tánh đã báo tin này cho Tướng Vỹ. Trước đó, theo lời của Trung Tá Tống Mạnh Hùng, một trong những sĩ quan cao cấp của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB, thì Tướng Vỹ đã gọi điện thoại về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 nhưng không ai trả lời, ông tức giận nói: “Tụi nó chạy trốn cả rồi!”*
Những giờ phút cuối cùng của Anh Hùng Lê Nguyên Vỹ
Đêm 29/4/1975 là đêm dài nhất cho tất cả các chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh QL,VNCH đang còn ở lại Lai Khê. Các vị trí tiền đồn báo cáo từng đoàn quân xa của CSBV đủ loại di chuyển nhưng đi vòng tránh căn cứ Lai Khê.
Sáng ngày 30/4/1975 vào lúc 7 giờ, tất cả sĩ quan ngồi họp tại phòng họp hành quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Vừa họp xong, Đại Úy Nguyên, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh, tới báo cáo là 10 giờ Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ đọc bài diễn văn quan trọng liên quan đến tình hình. Tướng Lê Nguyên Vỹ bảo các Sĩ quan ngồi chờ tại chỗ bên cạnh chiếc radio và tách cà phê nóng.
Đúng giờ, mọi người đều nghe bài phát thanh của ông Dương Văn Minh. Khi nghe lệnh tiếp theo của Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được ông Dương Văn Minh cử làm phụ tá cho Trung Tướng Vĩnh Lộc (Tổng Tham Mưu Trưởng được bổ nhiệm vào ngày 29/4/1975), thì Tướng Vỹ ra lệnh cho Trung Tá Nguyễn Tấn Văn, treo cờ trắng trước cổng trại, rồi ông cho triệu tập tất cả các sĩ quan, quân nhân tại Bộ Tư Lệnh để giải thích cho mọi người rõ về lệnh của ông Dương Văn Minh.
Theo lời kể của một số sĩ quan có mặt lúc đó, bằng giọng nói cương quyết, tướng Vỹ nói: “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là bắt chúng ta buông súng đầu hàng. Riêng với tôi, là một tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Từ nay, tôi không còn chỉ huy các anh em nữa, các anh em tự lo liệu lấy”.
Sau đó, Tướng Vỹ cho tìm bác sĩ Hiếu, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng – Tiểu Đoàn 5 Quân Y, có lẻ ông định tìm thuốc độc tự tử, nhưng bác sĩ Hiếu đã lánh mặt. Các sĩ quan thân cận quanh Tướng Vỹ tìm cách dấu hết súng vì sợ vị tư lệnh tự tử. Các sĩ quan cùng nhau khuyên ông, nhưng ông lại yêu cầu mọi người rời khỏi căn cứ, đừng đợi bọn cộng phỉ mọi rợ vào.
Trước khi vĩnh biệt các sĩ quan trong Bộ Tư Lệnh, Tướng Vỹ đã mời mọi người sang nhà riêng ăn cơm chung. Vừa lùa xong chén cơm một cách vội vã, trong khi mọi người đang ăn thì Tướng Vỹ đi nhanh vào “trailer”. Hai tiếng súng nổ chát chúa, mọi người bỏ đũa chạy vào thì thấy Tướng Vỹ đã nằm trên vũng máu. Dù tất cả các súng đã giấu kỹ nhưng vẫn còn khẩu súng Beretta 6.35 để trong trailer thì không ai ngờ đến.
Vào giây phút đó, quanh Tướng Vỹ có Đại Tá Từ Vấn, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn, Trung Tá Tống Mạnh Hùng và một số sĩ quan tham mưu. Mọi người đã thay quần áo cho vị Tư lệnh, và đứng nghiêm chào vĩnh biệt vị chủ tướng anh hùng. Tướng Vỹ ra đi ở tuổi 42.
(Một bài viết của ông Thanh Sơn, dựa theo theo lời kể một số bạn bè, đăng trong KBC, lại ghi rằng: sau khi nói chuyện xong với anh em quân nhân Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Tướng Vỹ bước ra sân đứng nghiêm dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, rồi tự sát bằng khẩu súng lục chỉ huy của mình).
Trung Tá Nguyễn Minh Tánh kể lại rằng khi ông dẫn các Thiết Giáp Xa cơ hữu đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh để đón Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường và Trung Tá Tống Mạnh Hùng (hai sĩ quan này cùng Khóa 5 Thủ Đức với Trung Tá Tánh) như đã hứa trước. Vừa đến nơi thì Trung Tá Hùng chạy ra nói: “Anh vào chào Chuẩn Tướng Tư Lệnh đi, người đã tự sát rồi.”
Trung Tá Tánh nghe Trung Tá Hùng báo tin thì lòng ông vô cùng xúc động. Ông đứng chỗ trailer nhìn vào thì thấy vị Tư Lệnh đáng kính của mình nằm yên trong quân phục tươm tất, có huy chương trên túi áo, và hai tay xếp trên bụng. Một viên đạn súng Beretta 6.35 ly trổ từ dưới cằm lên đỉnh đầu.
Trung Tá Tánh và các sĩ quan thuộc cấp vội chào kính vĩnh biệt người người anh cả của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, một Vị Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
(Sài Gòn niềm nhớ/ Nguyễn Phúc An Sơn) (Tổng hợp dựa theo tài liệu tạp chí KBC, hồi ký của cựu Trung Tá Nguyễn Minh Tánh, tài liệu của cựu Thiếu Tá Trương Dưỡng, và của Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ).

— with Nguyễn Tâm An.