VỀ CỐ TỔNG THỐNG HOA KỲ HARRY S. TRUMAN

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

May be an image of hat

Cố Tổng thống Harry S. Truman.

Vào sáng ngày 20 tháng 1 năm 1953, Harry S. Truman kết thúc nhiệm kỳ tổng thống và rời khỏi Toà Bạch Ốc. Ông không có đoàn xe hộ tống. Ông không có văn phòng chính phủ nào để chuyển đến. Ông không có nhân viên. Ông không có lương hưu.
Đạo luật về Cựu Tổng thống – sau này quy định lương và văn phòng cho các tổng thống đã về hưu – lúc bấy giờ chưa tồn tại. Ông chỉ có khoản thu nhập đều đặn là khoản lương hưu quân đội từ thời làm đại úy pháo binh trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Số tiền là một trăm mười hai đô la và năm mươi sáu cent mỗi tháng.
Ông cùng phu nhân lên tàu tại ga Union Station và trở về nhà ở Independence, Missouri.
Khi rời nhiệm sở, tỷ lệ ủng hộ của Truman chỉ khoảng 32% – thuộc mức thấp nhất trong số các tổng thống Mỹ hiện đại. Giới báo chí Washington, vốn thù địch với ông trong phần lớn nhiệm kỳ thứ hai, coi sự ra đi của ông như một sự nhẹ nhõm. Đánh giá chung, cả trong thành phố ông rời khỏi lẫn phần lớn đất nước, đều cho rằng nhiệm kỳ tổng thống của Truman là một thất bại.
Ông trở về nhà và sống đúng như cách đất nước đã yêu cầu ông sống.
Mùa hè năm đó, ông mua một chiếc Chrysler. Ông và Bess tự lái xe từ Independence đến Washington, rồi New York, sau đó quay trở lại. Một cựu tổng thống Hoa Kỳ tự đổ xăng tại các trạm ven đường, ký tặng cho những tài xế xe tải nhận ra ông. Cảnh sát bang Pennsylvania đã dừng xe ông vì lái quá chậm. Ông tự trả lời điện thoại ở Independence. Ông tự tay trả lời hàng nghìn bức thư từ những người viết thư cho ông. Mỗi sáng, ông đi bộ trên các con phố quê hương với tốc độ nhanh đến mức các phóng viên cố theo kịp đôi khi phải chạy bộ.
Ông không viết hồi ký cay đắng. Ông không cho phỏng vấn để công kích người kế nhiệm. Ông không nỗ lực nào, theo cách có thể nhìn thấy, nhằm phục hồi hình ảnh bản thân. Ông chỉ đơn giản tiếp tục ở Independence, Missouri, là chính con người mà ông đã từng là trước khi trở thành tổng thống.
Trong khi ông làm điều đó, những việc ông đã thực hiện với tư cách tổng thống bắt đầu, rất chậm rãi, trở nên khác biệt so với cách đất nước đã đánh giá chúng lúc bấy giờ.
Năm 1948, ông đã ký Sắc lệnh Hành pháp 9981, chấm dứt phân biệt chủng tộc trong lực lượng vũ trang Hoa Kỳ – một quyết định ông đưa ra bất chấp sự phản đối rõ ràng từ một bộ phận lớn trong bộ máy quân sự Mỹ và cánh Nam của chính đảng ông, vì ông tin rằng đó là điều đúng đắn phải làm. Thông qua Học thuyết Truman và Kế hoạch Marshall, ông đã cam kết Hoa Kỳ tích cực ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô ở châu Âu hậu chiến và tài trợ cho việc tái thiết các nước Tây Âu bị tàn phá trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tây Âu như ngày nay – với quỹ đạo dài của hòa bình và ổn định dân chủ đã kéo dài hơn bảy mươi năm trên lục địa ấy – tồn tại phần lớn nhờ quyết định của Truman vào cuối những năm 1940 rằng Hoa Kỳ sẽ chi trả để tái thiết châu Âu.
Ông cũng là tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, vào tháng 11 năm 1945, chính thức đề xuất với Quốc hội một hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia.
Đề xuất đã bị chỉ trích dữ dội. Hiệp hội Y khoa Mỹ đã lên án nó bằng ngôn ngữ trở thành chuẩn mực thời bấy giờ: “y học xã hội hóa”. Liên minh bảo thủ trong Quốc hội đã chôn vùi nó. Truman đưa ra lần nữa. Nó lại bị chôn vùi.
Khi ông rời nhiệm sở năm 1953, việc không thông qua được bất kỳ phiên bản nào của kế hoạch bảo hiểm y tế quốc gia, theo chính lời Truman sau này, là một trong những thất bại cá nhân cay đắng nhất trong nhiệm kỳ của ông.
Ông vẫn trở về nhà. Ông đi bộ trên những con phố của Independence. Thời gian trôi qua.
Vào ngày 30 tháng 7 năm 1965, hai mươi năm sau khi Truman lần đầu yêu cầu Quốc hội thông qua kế hoạch bảo hiểm y tế quốc gia, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã làm một điều mà các tổng thống Mỹ trước đó chưa từng làm khi ký ban hành một đạo luật quan trọng. Ông không ký dự luật tại Washington. Ông không tổ chức lễ ký tại Vườn Hồng, Phòng Bầu dục hay bất kỳ địa điểm tiêu chuẩn nào mà nhánh hành pháp thường sử dụng. Thay vào đó, ông bay theo Chuyến bay Air Force One đến Kansas City, lái xe đến Independence, Missouri, và ký dự luật ngay trong khán phòng của Thư viện Tổng thống Harry S. Truman.
Dự luật đó là Tu chính Luật An sinh Xã hội năm 1965, tạo ra Medicare và Medicaid.
Truman, lúc ấy đã tám mươi mốt tuổi, ngồi cạnh Johnson tại bàn ký. Khi Johnson đứng dậy phát biểu, ông nhìn vị cựu tổng thống ngồi bên cạnh và nói trong những dòng mở đầu được ghi lại:
“Người dân Hoa Kỳ yêu mến và bầu cho Harry Truman, không phải vì ông đã cho họ địa ngục – mà vì ông đã cho họ hy vọng.”
Johnson sau đó ký ban hành luật và trao bút ký cho Truman và Bess. Trong bài phát biểu ngày hôm đó, ông mô tả Truman là “người cha thực sự của Medicare”.
Sáu tháng sau, vào tháng 1 năm 1966, Johnson trở lại Thư viện Truman để tổ chức một buổi lễ riêng. Ông mang theo hai thẻ Medicare đầu tiên được chính phủ Hoa Kỳ cấp. Thẻ đầu tiên được cấp cho Harry S. Truman. Thẻ thứ hai cấp cho Bess W. Truman. Johnson tự tay trao chúng cho hai vợ chồng.
Người đàn ông từng được thông báo cách đây mười hai năm rằng công việc của ông là vô ích, nay đã nhận được bằng chứng pháp lý rằng công việc ấy không hề vô ích. Nó chỉ cần thời gian chờ đợi.
Truman sống thêm sáu năm rưỡi sau đó.
Ông qua đời ngày 26 tháng 12 năm 1972, ở tuổi tám mươi tám. Các cuộc khảo sát gần đây của các sử gia chuyên nghiệp Mỹ xếp ông ở vị trí từ thứ sáu đến thứ chín trong số những tổng thống hiệu quả nhất trong lịch sử đất nước, tùy theo phương pháp đánh giá.
Ông không trở thành một con người khác vào cuối đời so với khi ông nhậm chức. Ông không vận động để phục hồi danh tiếng của bản thân. Ông không làm dịu bớt hồ sơ của mình để giành sự ủng hộ. Ông chỉ đơn giản ở lại, sau khi rời nhiệm sở, trong thị trấn nhỏ Missouri mà ông xuất phát, và để những công việc ông đã làm tiếp tục mang ý nghĩa đúng như khi ông thực hiện chúng.
Lịch sử có một ký ức rất dài.
Trong trường hợp của ông, phải mất khoảng hai mươi năm để lịch sử bắt đầu theo kịp.
Facebooker SƠN BÙI.