-Điều hợp chương trình:
Ca sĩ TƯỜNG VY & Giáo sư NGUYỄN ĐÌNH CƯỜNG
-Keyboard ĐINH TRUNG CHÍNH
-Diễn giả:
-Nhà báo TRẦN PHONG VŨ.
-Giáo sư NGUYỄN TRUNG QUÂN.
-Cựu Đại úy QUÁCH VĨNH TRƯỜNG.
-Nhà thơ lính TRẠCH GẦM.
-Nhà văn TRƯỜNG SƠN LÊ XUÂN NHỊ
-Cựu thiếu tá TQLC QUÁCH NGỌC LÂM.
–Văn nghệ phụ diễn: ÁI PHƯƠNG, HẢI ÂU, HOÀNG OANH, MỴ HOA, YÊN LY, CHẾ TÙNG, QUÝ HÀ & TRỌNG THÁI.
https://www.facebook.com/taman.nguyen.130517CA/videos/1289859426584173
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ DIỄN GIẢ:
1.Nhà báo,Nhà văn, Giáo sư TRẦN PHONG VŨ
Tên thật là Trần Ngọc Vân. Sinh năm 1932 tại Thái Bình. Di cư vào Nam năm 1954. Bình luận gia các chương trình trên Đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn từ năm 1957. Tổng thư ký nhiều tờ báo miền Nam trước năm 1975. Giáo sư môn văn chương đệ nhị cấp các tư thục lớn ở Sài Gòn: Thủ Khoa, Hưng Ðạo, Nguyễn Bá Tòng, Lasan Taberd…
Được Giải Nhất của Văn Hóa Vụ (Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hoà) năm 1956 với “Mùa HợpTấu”, một tác phẩm trường ca; “Tâm Bút Niềm Đau Của Huế” đăng hàng ngày trên nhật báo Sóng Thần (1972-1973), in thành sách đầu năm 1975.
Sau năm 1975, định cư California, Hoa Kỳ . Ông tiếp tục cầm bút, chủ trương các tờ báo Ðường Sống, Diễn Ðàn Giáo Dân; hợp tác trong nhiều chương trình bình luận thời sự, văn học trên các đài truyền hình lớn của cộng đồng người Việt: SBTN, VHN… Ông là một trong những người đã sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương.
Tác Phẩm:
Trần Phong Vũ là tác giả của 14 tác phẩm thuộc đủ mọi lãnh vực từ văn chương thơ phú cho đến những biên khảo, nghiên cứu chính trị, tôn giáo.
Một số đã bị mất trong cuộc chiến.
********************************* `
2.Cựu đại úy QL/VNCH QUÁCH VĨNH TRƯỜNG
Xuất thân từ gia đình công chức trung lưu, nghèo đông con.
Cấp tiểu học: học sinh trường tiểu học Cầu Kho.
Cấp trung học: Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký
Cấp Đại Học: Đại Học Khoa Học Saigon
Tình nguyện gia nhập Khóa 20 Nguyễn Công Trứ, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ngày 5 tháng 12 năm 1963.
Tốt nghiệp Thiếu Úy Hiện Dịch Ngày 20 Tháng 11 Năm 1965.
Tháng giêng 1966 trình diện phục vụ tại Sư Đoàn 7 Bộ Binh, được bổ nhiệm giữ chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 4. Trung Đoàn 12.
Đêm 4 tháng 9 năm 1966 Ông bị trọng thương tại xóm Bà Giảng, thuộc tỉnh Gò Công trong lúc họp ban chỉ huy đại đội để chỉ thị hoạt động đêm, thình lình một trái lựu đạn lăn vào vị trí của buổi họp, ông hét lớn: “LỰU ĐẠN_- NẰM XUỐNG” và lập tức nhanh chân phóng tới đá quả lựu đạn để cứu sống cho gần 30 binh sĩ thuộc cấp. Hậu quả ông bị mất chân trái, tay trái, ngón tay cái, bàn tay phải, điếc hai tai, bể xương gò má phải và nhiều mảnh lựu đạn vẫn còn trong phổi.
Ông được trực thăng chuyển về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa.
Sau đó được Hội Đồng Y Khoa cho phép giải ngũ với cấp độ tàn phế 170%.
Ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và ĐT Cao văn Viên gắn Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu vào năm 1968 trước tết Mậu thân, tại Tổng y viện CH khi đang được dưỡng thương. Trung Tướng Trần văn Trung tới ủy lạo, Ông nói là vẫn muốn phục vụ quân đội thì TT Trung nói là phải có giới chức cao cấp cho phép trở lại quân đội vì đã được giải ngũ rồi. Sau đó Ông xin gặp Thủ Tướng Trần văn Hương, trình bày nguyện vọng của mình và được Thủ Tướng ký Quyết định Số 600/TTM/NĐ chấp thuận cho tiếp tục phuc vụ quân đội.
Ngày 8 tháng 11 năm 1968, Ông được Trung Tướng Trần Văn Trung thuyên chuyển về Cục Tâm Lý Chiến và được Thiếu Tá Phạm Hậu nhận về phục vụ trong Ban Nghiên cứu tại Đài Tiếng Nói Quân Đội từ năm 1968. Trong thời gian này Ông ghi danh học Đai học Luật Khoa và tốt nghiệp cử nhân năm 1972.
Từ đầu năm 1975 Ông giữ chức vụ Tham Vụ tại Nha Địa ốc thuộc Tổng Cục Phát Triển Gia Cư cho đến cuối tháng 4 năm 1975.
Sau biến cố tháng 4-75, khi mất quyền công dân, Ông sinh sống bằng nghề bán bánh mì dạo trong khu Cư Xá Lữ Gia và chợ Nguyễn Tri Phương.
Ông liên lạc với Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Thái lan, trình bày trường hợp của mình, và sau đó được phép đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện Tỵ Nạn Chính Trị.
Vào ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1986 gia đình Ông được lên đường tới Hoa Kỳ
Tại Mỹ, Ông đi học lại và tốt nghiệp ngành hội họa Visual Art, Photo Retouching và Graphic Design and Printing .
Hiện giờ, Ông vẫn tự nguyện tham gia phục vụ cộng đồng để phát huy chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa trong khả năng của mình.
*********************
3.Giáo sư NGUYỄN TRUNG QUÂN
-Sinh năm 1937 tại Cần Thơ.
-Cựu học sinh TH Phan Thanh Gian Cần Thơ và TH Petrus Trương Vĩnh Ký Saigon.
-Tốt nghiệp ĐHSP Saigon năm 1962.
-Cựu Giáo sư, rồi Giám học, rồi Hiệu Trưởng TH Phan Thanh Giản Cần thơ.
-Cựu Giảng viên ĐHSP thuộc Viện ĐH Cần Thơ.
-Cựu Hiệu trưởng TH Tổng hợp Nguyễn An Ninh Saigon.
-Cựu Phó Chủ Tịch Tổng hội Giáo giới Việt Nam.
-Cựu Hội viên Hội đồng Văn Hóa Giáo dục VNCH.
-Thuyền nhân ở đảo Bidong Malaysia từ cuối năm 1978 đến tháng 6-1979.
-Được định cư tại Orange County từ tháng 7-1979.
-Công chức sở Xã hội Orange County từ năm 1980 cho đến khi về hưu 2002.
-Trong thời gian còn làm việc cho đến khi về hưu có tham gia vào các công việc về Văn hóa Giáo dục, Từ thiện, Tôn giáo của Cộng đồng Người Việt Hải ngoại.
***********************
4.Nhà văn TRƯỜNG SƠN LÊ XUÂN NHỊ
Tên thật là Lê Xuân Nhị, sinh năm 1951 tại Ban Mê Thuột
– Sau khi thi đậu tú tài bán phần năm 1968, yêu thích cuộc đời giang hồ của lính nên đã tình nguyện gia nhập trường Bộ Binh Thủ Đức.
– Tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, ông được đưa tuyển sang Không Quân và sau trở thành phi công lái máy bay thám sát L-19, tốt nghiệp khóa 39 Hoa Tiêu Quan Sát tại trường phi hành Nha Trang.
– Sau khi ra trường, ông phục vụ tại Phi Đoàn 114, Không Đoàn 62 Chiến Thuật, Sư Đoàn 2 KQ Nha Trang. Khu vực làm việc của Phi Đoàn 114 bao gồm từ Quảng Đức phía Nam cho đến Qui Nhơn phía Bắc và quan trọng nhất, sâu vào phía Tây Bắc của vùng 2 chiến thuật là khu vực tam biên Pleiku. Đây là nơi mà nhiều trận đánh nổi tiếng đã xảy ra vào mùa Xuân-Hè năm 1972 (báo chí còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa) và năm 1972 khi Bắc Quân đem 3 sư đoàn xâm nhập và mưu toan cắt Việt Nam làm 2 khúc.
Là một phi công lái máy bay trinh sát và hướng dẫn khu trục, Lê Xuân Nhị làm việc với tất cả những đơn vị bộ binh ở đó như Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật, và các đơn vị biệt động quân ở vùng II. Bốn năm lăn lộn trong bầu trời đầy dẫy lửa đạn này, ông học hỏi được nhiều điều. Cũng nhờ những phi vụ yểm trợ này ông có một khái niệm tổng quát về cuộc chiến, học hỏi được nhiều kinh nghiệm về các trận đánh và dùng những kinh nghiệm này để viết những câu truyện ngắn thật là cảm động về cuộc chiến đấu cô đơn, anh dũng và bi hùng của người lính QLVNCH.
– Ông sang Mỹ năm 1975, hiện cư ngụ miền Nam CA.
– Khi sang Mỹ năm 1975, uất hận vì cuộc thua trận của Việt Nam Cộng Hoà, mỗi năm vào dịp kỷ niệm mất nước 30-4, ông thường viết những bài viết ngắn bằng tiếng Anh để đăng lên mục “Ý kiến bạn đọc” (Your opinion) của tờ nhật báo duy nhất The Times Picayune của thành phố New Orleans, vạch ra những sai lầm và bất công mà nhân dân và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải gánh chịu trong suốt cuộc chiến.
– Những bài viết này được một số người Việt Nam địa phương để ý, cho nên, khi hội ái hữu Không Quân tại Louisiana quyết định làm tờ đặc san năm 1989, ông được anh em mời cộng tác.
-Ở lứa tuổi 40, Trường Sơn Lê Xuân Nhị viết đoản thiên đầu tiên về anh em và phi đoàn mình, Phi Đoàn 114. Bài viết làm cho chính tác giả và nhiều người rơi lệ.
– Được khuyến khích, ông viết thử bộ truyện dài “Xếp Al Capone” là một cuốn truyện viết về bọn mafia ở Chicago mà sau đó trở thành bộ trường thiên, viết trong 5 năm, gồm 5 cuốn tổng cộng 2000 trang tất cả với một số chữ là một triệu chữ. Đây là một trong những bộ sách bán chạy nhất hải ngoại với nhiều lần tái bản.
– Sau cuốn Xếp Al Capone, Trường Sơn Lê Xuân Nhị viết tiếp Phát Súng Ân Tình gồm 10 cuốn (2 triệu chữ) cũng được độc giả khắp thế giới say mê theo dõi. Bộ sách được tái bản cho đến ngày hôm nay (năm 2001) là 6 lần tất cả.
– Ông hiện là một chuyên viên về điện toán (Computer Specialist) cho chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ tại thành phố New Orleans.
– Hiện ông đang viết một cuốn truyện dài thuộc loại xã hội đen khác về nghiệp đoàn lao động Hoa Kỳ và đồng thời sắp hoàn thành một tác phẩm bằng Anh Ngữ, viết về chiến tranh Việt Nam.
*********************
5.Cựu Thiếu tá TQLC QUÁCH NGỌC LÂM
Ông sinh năm 1941 tại Sài Gòn
Tốt nghiệp khoá 12 Thủ Đức.
Phục vụ 13 năm ( 62 -75 ) tại Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến
Chúc vụ cuối cùng là Thiếu Tá binh chủng TQLC
Tù vc 9 năm qua các trại
-Yên Bái
– Tân Lập ( Vĩnh Phú )
– Z30-D Hàm Tân.
Ra khỏi tù tháng 9 năm 1984.
Năm 1987 vượt biển đến Thái Lan, trại Phanat Nikhorn.
Năm 1988 được định cư tại California.
Đi học lại và làm chuyên viên cho hãng Gourmet Foods 21 năm trước khi về hưu.
***********************
6.Người lính làm thơ TRẠCH GẦM
Nhà thơ Trạch Gầm tên thật là Nguyễn Đức Trạch, người Quảng Ngãi, nhưng sinh trưởng tại Saigon. Ông xuất thân trong một gia đình truyền thống văn chương, than phụ là nhà báo kỳ cựu Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy và thân mẫu là nữ văn sĩ Tùng Long. Cho nên, Trạch Gầm cũng như những người em của mình (nhà văn Nguyễn Đức Lập, nhà văn Nguyễn Đông Thức) không chỉ ở văn chương chữ nghĩa, mà còn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc tư tưởng từ gia đình. Tuy nhiên, ông đến với thơ văn, đi vào cuộc chiến khá muộn.
Năm 1965, tròn 23 tuổi Trạch Gầm mới nhập ngũ khóa 21 Trường sĩ quan Thủ Đức, và có mười năm lăn lộn nơi chiến trường. Thời gian này, ông bắt đầu viết lách, và đăng tải rải rác trên các báo trong và ngoài quân đội.
Nhưng phải đến sau tháng 4-1975, với gần mười năm cải tạo tù đày, cùng những năm tháng cư ngụ nơi đất khách Hoa Kỳ, cây bút Trạch Gầm mới như có ma lực vậy. Viết không nhiều, song những tác phẩm của ông đã đánh đúng vào tâm lý, chạm đến được tận cùng nỗi đau, sự cảm thông của con người, nhất là đối với những người lính đã trải qua cuộc chiến tranh, tù tội. Vì vậy, tự sự là một trong những thủ pháp nghệ thuật làm nên những trang viết ấy của Trạch Gầm.
Cho đến nay, Trạch Gầm mới cho in ấn, xuất bản ba tập thơ: Vụn Vặt, Ráng Chịu, Dấu Giày Chinh Chiến, cùng hai tập truyện: Bên Lề Cuộc Chiến, Chôn Lầm Huyệt Nhớ, và tuyển tập Nhốt Vòng Nhớ Thương. Do vậy, ta có thể thấy, tuy là một nhà thơ, nhưng văn xuôi đã góp phần không nhỏ làm nên tên tuổi Trạch Gầm.