NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG (5) – Phạm Gia Đại

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail
Phần XIX:  Những Người Tù Áo Hoa
 Thời gian ở trong tù quả thật đúng nghĩa là thời gian chết.
Khoảng thời gian vô bổ, vô nghĩa vì không biết lấy cái gì để lấp đi được hết cái khoảng trống đó hay làm sao để giết đi được hết cái thì giờ thừa thãi đó. Đâu phải nó chỉ là mười ngày hay một tháng như lời tuyên truyền lừa bịp của Quân Quản thành phố khi Sài Gòn đã mất, mà nó kéo dài lê thê và pha lẫn với những máu, nước mắt và mồ hôi của hàng trăm ngàn người tù chính trị hết năm này qua năm kia hình như không có giới hạn về thời gian nữa.
Lúc tôi còn ở trại cô nhi Long Thành, hơn ba ngàn người hầu hết là dân sự trong các Phủ Bộ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang ở trong tù. Sau mười ngày, rồi sau một tháng trôi qua không động tĩnh thì họ cũng không còn biết bám víu gì vào ngày tháng nữa và thời gian chỉ còn là một khoảng trống không vô tận.
Cái chính sách “khoan hồng nhân đạo” của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản đối với các viên chức chế độ cũ đã bị rơi cái bộ mặt giả nhân giả nghĩa khi sau một tháng rồi mà vẫn giam giữ các “cải tạo” viên.
Chính sách đó đã biến miền Nam thành một nhà tù lớn nhất thế giới.
 Những người dân miền Nam , nhất là các quân dân cán chính chế độ cũ VNCH qua một thời gian ngắn sống dưới chế độ Cộng Sản, bắt đầu hiểu lờ mờ thế nào là Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN); và khi mà thức ăn dành cho súc vật là bo bo cũng không có đủ cho những người tù lao động khổ sai nữa thì mọi người bắt đầu nhìn thấy một hiểm họa đói kém và một tương lai đen tối đang đổ ụp xuống trên quê hương mình.
Có điều chúng tôi đều không hayđều không hề biết rằng những khoảng thời gian ấy là những tháng ngày hiếm có mà còn được những giây phút thoải mái và thong dong một chút trước khi bị đưa ra miền Bắc XHCN, bị ném vào “hỏa ngục” trên trần gian – là những trại “tập trung cải tạo” với nhiều hình thức lao động khổ sai khác nhau- đang được từ từ dựng lên như nấm khắp Nam chí Bắc VN, dập khuôn theo các trại ở Siberia hay Tân Cương.
Những buổi chiều tại trại cô nhi Long Thành, chúng tôi chẳng biết làm gi hơn là cứ lững thững đi bộ dọc theo các con đường đất nện chung quanh các căn nhà chỉ còn là cái xác, không cửa sổ mà cũng chẳng có cửa ra vào.
Một số thì ngồi trên gò đất cao nhìn ra hướng xa lộ chạy về thành phố vừa nhớ về gia đình vợ con vừa tự hỏi tại sao lại ra nông nỗi này?
Tại sao lại cả một chế độ đang Tự Do no ấm trong miền Nam chui hết cả vào tù như thế này? Tại sao hầu như tất cả những thành phần tinh hoa của VNCH đều vào trong cái rọ này hết? Ai, những ai là người đã gây ra cái thảm trạng này, chúng tôi chăng?
Câu hỏi đó cứ mãi xoáy vào trong đầu tôi và có lẽ cũng trong đầu mọi người đang ở chung quanh tôi bởi vì chúng tôi đã mất một miền Nam trù phú thịnh vượng và văn minh văn hóa vào tay bọn người mà trước kia VNCH gọi nó là loài quỷ Đỏ từ miền Bắc vào, vừa vô tôn giáo vừa vô tổ quốc, vừa nghèo đói vừa gian manh, tàn bạo, đầy thủ đoạn và xảo quyệt.
Nhưng loài quỷ Đỏ gian manh xảo trá đó lại là kẻ chiến thắng và chúng tôi văn minh văn hóa hơn mà lại là kẻ thất trận.
Điều nhức nhối là nằm ở chỗ đó, và mỗi thời gian qua đi trong tù thì chúng tôi lại học được những kinh nghiệm mới và hiểu rõ hơn về cái gọi là XHCN – là cái xã hội dậy cho con người ta bề ngoài phải sống dối trá thì mới có thể tồn tại được.
Trong khi từ ngàn xưa chúng ta đã bị ảnh hưởng nhiều từ hai luồng triết học của Khổng giáo và Phật giáo. Sau ngày di cư vào Nam chúng ta còn được học Công Dân Giáo Dục và Đức Dục tại trường học. Các môn trí dục đó đều dậy chúng ta trở thành những con người vừa có tài năng vừa có đức hạnh, ngay thẳng, thành thật và biết thương người.
Đem hai lối sống đối chọi nhau như vậy ra cân đo, một đàng Cộng Sản chỉ biết một điều là chém giết và phá hoại không nương tay tất cả mọi thứ trên đường chúng đi để cướp chính quyền bằng mọi thủ đoạn – và một bên chúng ta những người Quốc Gia đã hành động như những người quân tử có lòng nhân đạo và không biết phòng bị đối với kẻ tiêu nhân – thì chúng ta đã hiểu vì sao Việt Minh đã thành công trong việc âm thầm hay công khai thủ tiêu hầu hết các nhà cách mạng trong các phong trào và đảng phái yêu nước thời chống Pháp và họ đã cướp được chính quyền.
Sau năm 1954 đất nước bị chia hai và khi Hiệp Định Genève ký chưa ráo mực, CSVN vẫn dùng một sách lược như cũ, theo đúng lời dậy bảo của quan thầy chúng là Nga-Tầu, là phát động cuộc chiến võ trang, xé bỏ ngay Hiệp Định mà chúng vừa ký kết để xua quân xâm nhập trái phép vào miền Nam qua vùng Phi quân sự và sử dụng cả đất Lào và Miên cho đường chuyển quân của chúng.
Trong tù, anh em có lúc nói chuyện với nhau rằng nếu ngày trước hành quân bắt được tên VC hay Bắc Việt nào bắn bỏ hết thì chúng đâu còn lực lượng đâu mà tấn công chúng ta nữa? Nhưng là người Quốc Gia chúng ta thượng tôn luật pháp đâu có thể làm thế được. Cho nên chỉ giam giữ tù binh VC một thời gian, cho một bản án,  rồi lại thả và chúng lại trốn vào bưng, như cóc bỏ dĩa vậy.
Thời gian còn ngoài Bắc, có những em bé chăn trâu hay những trẻ đang mót lúa trên đồng nhìn thấy chúng tôi thì lạ lắm. Vài hôm sau quen dần thì mon men lại gần hỏi chúng tôi biết đọc chữ hay sao khi có vài anh cầm trên tay cuốn sách. Bởi Các em và các dân làng bên đều bị tiêm nhiễm sự tuyên truyền của Cộng Sản rằng các lính “Ngụy” chỉ biết ăn gan hút máu người mà thôi.
Thế rồi vài anh đã chỉ cho các cháu tập đọc và cách giữ gìn vệ sinh tránh bệnh tật nữa và các em bé này khi về tới làng loan truyền lại rằng các người tù này rất hiền lành và tử tế chứ không hung dữ như các cán bộ huyện xuống tuyên truyền đâu, và mỗi lúc đội chúng tôi đi lao động bên ngoài trại thì các em lại mon men đến gần vì rất thích nghe các chú kể truyện trong Nam.
Những ngày mà đội được điều về sửa sang hay xây lại cái sân hay gian trái của nhà tay trưởng trại là Thiếu Tá Dũng thì cậu bé cháu nội của tay trưởng trại này mới lên bẩy thường khệ nệ vác ra cái điếu cầy, ít thuốc lào cho các chú hút thuốc “giải lao” cho vui.
Nó thường nhìn trước sau không có ai là bê nguyên bình rượu Mai Quế Lộ của ông nội nó ra cho các chú mỗi người tu một hớp, rồi ngồi bên cạnh há hốc mồm ra nghe một cách say sưa các chú vừa lao động vừa kể chuyện đời xưa trong Nam, những chuyện lạ lắm nó chưa từng được nghe bao giờ.
Hỏi là lớn lên cháu thích làm gì thì nó trả lời không do dự:
-”Cháu muốn làm các người tù áo hoa như các chú”
-”Tại sao không muốn làm cán bộ như ông nội con đó?”
-”Tại vì tù áo hoa có nhiều quà lắm. Mỗi lần thăm nuôi là một xe đầy quà à!.”
Chúng tôi dù đang trong hoàn cảnh lưu đầy cũng không nhịn được và phá ra cười.
Sau khoảng hai tuần lễ sửa chữa  nhà cửa cho tay trưởng trại này xong thì những người tù áo hoa này không còn có dịp gập lại chú bé con dễ thương đó nữa, nhưng vẫn không thể nào quên được tình cảm thương mến mà chú bé đã dành cho các anh em trong đội xây dựng nhất là hớp rượu Mai Quế Lộ hiếm có trong hoàn cảnh đó.
Dân làng chung quanh cũng quen gọi chúng tôi là tù áo hoa vì mặc đồ treillis, còn bà vợ của tay trưởng trại này thì gọi chúng tôi là “những tù quốc tế“:
-”Các anh cứ đưa tiền đây cho tôi, tôi sẽ mua trứng gà và thịt thà cho. Ăn vào cho nó khỏe chứ các anh là tù quốc tế mà sợ gì tụi nó”.
Tụi nó ở đây là đám cán bộ an ninh và trực trại và những anh em tù nhân cả bên hình sự và chính trị được cho chức vụ như tự giác, thi đua luôn đứng lục xét từng người tù một ngay tại cổng trước khi cho nhập trại, nếu họ có gì nghi ngờ.
Bà ta nói thì rất là mạnh miệng nhưng có lần trong đội thường cử ra một anh làm “sĩ quan liên lạc” để đi lấy hàng về, khi vừa đến cửa nhà tay trại trưởng thì anh định kêu bà đem hàng ra thì thấy ông ta ngồi lù lù cạnh cái bàn đang rít điếu thuốc lào, còn bà vợ ở phía sau thì xua tay rối rít. Anh “sĩ quan liên lạc” này vội dọt lẹ.
Hôm sau gập bà ta lấy hàng thì bà phân bua:
-”Các anh không biết chứ ông ấy cứ hay lên lớp tôi là mua bán “móc ngoặc” như thể là làm ăn không tôn trọng nội quy và làm ông ta mang tiếng. Hôm qua tôi bèn nói cho ông ta biết rằng nếu tôi không làm ăn buôn bán thế này thì lấy đâu ra ngày ngày thịt lợn luộc cho ông ấy ăn, rượu Mai Quế Lộ cho ông ấy nhắm?”
Bà vợ tay trại trưởng này tuy người gầy đét như que củi và hàm răng thì cả một tiểu đội trú mưa cũng còn dư nhưng được cái không hiểu sao rất là tốt với những người tù áo hoa này, có thể vì họ sẵn sàng mua hàng với bất cứ giá nào dù là cao hơn nhiều so với ngoài chợ, miễn là có hàng cho họ để bù vào cái khẩu phần ăn quá thiếu thốn.
Vậy mà trong một thời gian dài bà ta cũng đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong dịch vụ cung cấp “chất tươi” – để chỉ các loại thịt và nhất là trứng gà.
Hễ có con gà nào vừa đẻ là bà ta dành dụm lại thành một chục để bán cho tù chính trị và chỉ bán cho tù chính trị mà thôi. Có anh em hỏi tại sao không bán cho tù hình sự thì bà chỉ lắc đầu không nói nhưng chúng tôi hiểu ngầm là bà chỉ tin tưởng vào đồng tiền của người tù áo hoa thôi.
Mãi cho đến khi các gia đình trong Nam ra thăm nuôi chúng tôi được thường xuyên hơn thì những dịch vụ buôn bán của bà vợ tay trại trưởng này mới thưa dần đi.
Dù thời gian đã xóa nhòa đi nhiều kỷ niệm nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được cái dáng gầy đét như cây sậy và đôi chân trần nứt nẻ của bà vợ tay trưởng trại này và cái tay bà khua khua trên không khí:
-”Các anh không biết chứ ngày xưa tôi là hoa khôi trong làng cho nên ông ấy mới mê tít đi mà cưới hỏi đấy.”
Dầu sao cũng phải công nhận là bà ta có cái Tâm khá thành thật và không hề bị ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền của Nhà Nước XHCN nên đối xử với chúng tôi có chút tình người.
Những hôm mua được “hàng” từ nguồn cung cấp của bà vợ trưởng trại này, và qua mặt được sự khám xét ở cổng trại để đem “hàng” vào được trong trại yên lành là những thời gian “vàng son” của người tù.
Chúng tôi chia nhau có thể năm mười người một con gà luộc để có một bữa ăn cho bõ ghét. Nằm ngay trước mặt tôi là một anh bạn khác đội, pilot ngày xưa và cao lớn. Anh ăn rất khỏe bởi thế lại là người đau khổ nhất mỗi khi nhận phần ăn chưa đầy một bát bo bo hay lưng bát cơm. Thấy tôi nhỏ con nên anh thường hay qua đổi cơm lấy bo bo để ăn cho nó nặng bụng hơn một chút vì bo bo vỏ dầy ăn vào thì lâu tiêu hơn là cơm nên có cảm giác đỡ đói hơn.
Hôm ấy, anh dành tiền và mua được nguyên một con gà và buổi tối sau khi vào buồng, anh mượn cái chậu thau phát cơm của buồng để đựng con gà, bầy nó nguyên con ra trước mặt để làm một bữa đánh chén có một không hai cho thỏa những ngày bụng xẹp lép quanh năm.
Tôi ngồi ngay trước mặt anh ở sàn trên nên không muốn cũng phải nhìn qua sàn bên kia từ đầu đến cuối, từ lúc anh bắt đầu ngồi xuống chiếc chiếu, sắn tay áo lên bê cả con gà lên, nghĩ sao lại bỏ xuống rồi chỉ bẻ một cái cánh ra nhấm nháp trong khi cặp mắt thì lim dim lại như để tận hưởng cái khẩu vị êm ái và ngọt ngào đó. Nhìn cách anh chậm rãi “xơi tái” con gà một cách ngon lành mà tôi không nhịn được cười, dù là vui vì bạn mình có một bữa no nê để trả thù cái đói kinh niên đáng nguyền rủa cứ bám chặt lấy người tù. Thình lình anh mở mắt ra nhìn thấy tôi bèn chỉ vào chiếc đùi gà, tôi lắc đầu chỉ vào phần thịt gà mà tôi vừa chia được.
Sau hai tiếng đồng hồ anh mới xong bữa tối. Bình thường thì chỉ vài phút đồng hồ là chúng tôi ăn xong phần ăn của mình bởi chỉ có độc nhất ít bo bo hay khoai tây nhỏ bằng ngón tay út hay lưng chén cơm, không có canh, không có cả nước muối hay rau cỏ gì nên thanh toán rất nhanh.
Anh rửa qua loa cái chậu thau, bỏ nó ra gần cửa xong leo lên giăng mùng chui vào giấc ngủ đến thật êm đềm. Tối đó tôi tin là anh ngủ rất say không nhiều mộng mị. Người tù đó vừa có một ngày vui bất ngờ, một bữa ăn thịnh soạn như trên trời rơi xuống, và ngày mai muốn ra sao hãy tính sau.
Vài năm sau khi vào trại thì họ phân phát cho chúng tôi các bộ đồ treillis mầu hoa rừng của QLVNCH trước kia, một phần để tiết kiệm ngân quỹ, mặt khác cũng có thâm ý để cho chúng tôi mặc quấn áo đó như là QLVNCH đang bị chúng giam giữ vậy.
Thiên bất dung gian cho nên họ không ngờ rằng với bộ treillis mầu hoa rừng đó của các binh chủng TQLC, Nhẩy Dù, BĐQ, các người tù đã đi khắp đó đây trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của Hoàng Liên Sơn chặt cây đem về cho trại – và vô hình chung QLVNH như bừng sống lại giữa núi rừng từ miền trung du lên các tỉnh miền thượng du.
Trong mắt của dân làng nhất là dân tộc thiểu số qua những lần tiếp xúc tuy ngắn ngủi với các người tù chính trị chế độ cũ thì họ nhận thấy những người tù này hoàn toàn khác hẳn so với những tù hình sự và dân chúng bắt đầu gọi chúng tôi là “người tù áo hoa” từ đó để phân biệt với tù hình sự. Tù áo hoa là những con người hiền hòa dễ mến và hay giúp đỡ không phải là hình ảnh những kẻ giết người, ăn gan người như tuyên truyền.
Khi ra Bắc được khoảng hai năm thì vào một ngày cuối Thu, trời chợt chuyển lạnh thình lình rồi mưa xuống xối xả như thể bao nhiêu nước trên trời đều tuôn xuống vùng núi rừng hoang vu này.
Nước từ trên nguồn cũng tháo xuống qua thung lũng, qua khe núi, từ trên rừng đổ về. Chỉ mấy ngày sau là cả vùng ngập lụt trong nước trắng xóa. Những ngôi làng dân tộc thiểu số người Thái chìm trong biển nước. Hoa mầu mất sạch và nương rẫy đều biến mất dưới làn nước trắng xóa, trâu bò xổng chuồng và bị nước lũ kéo phăng đi.
Nước cuồn cuộn đổ về tàn phá xóm làng, cả một vùng mênh mông không còn gì ngoài nước lũ, sức nước xoáy về quả thật là ghê gớm như cơn thịnh nộ của trời đất. Tất cả hầu như không còn gì dưới dòng nước trắng đục.
Miền Bắc nhất là các vùng mạn ngược của đồng bào thiểu số vốn dĩ đã nghèo xác xơ, quanh năm suốt tháng chỉ trông chờ vào hoa mầu và nương rẫy bây giờ tay trắng. Dân làng đứng trước một nạn đói không thể tránh được.
Địa phương thì nơi nào lo nơi đó và họ không hề quan tâm đến dân làng, nhất là khu vực làng của những sắc dân thiểu số.
Những người tù áo hoa bảo nhau nhập cuộc.
Hàng ngày mỗi khi ra lao động đi ngang qua khu vực làng mạc bị thiên tai, người cái áo, người cái quần, cái mùng hay đôi dép, lon Guigoz, cái nón lá và ngay cả khẩu phần ăn ít ỏi của họ nữa, góp lại và kín đáo bỏ lại bên gốc cây còn khô ráo và chỉ cho dân làng đến lấy về dùng.
Một thời gian sau, khi qua được thiên tai đó, mỗi lúc dân làng người dân tộc, thấy những người tù áo hoa lao động đi qua khu vực làng xóm thì họ chạy ra, bồng bế con cái và chắp tay lại cúi đầu xá những người tù này từ xa như xá những ông thần của họ vậy. Họ đem ra nải chuối, củ khoai củ sắn bỏ bên cạnh các gốc cây, nhưng những người tù trong mầu áo hoa rừng đó đều ra hiệu cám ơn, khoát tay và bảo nhau không nhận – bởi thấy người dân làng họ nghèo quá, nghèo đến độ mà những người tù thân còm cõi trong hoàn cảnh lưu đầy nhìn thấy cũng còn phải xúc động.
Nói về con người giam giữ con người thì trong lịch sử bốn ngàn năm của chúng ta, các vua chúa thời xưa cũng dựng lên nhiều loại ngục thất dành cho các kẻ tạo phản hay để trừ khử những thành phần chống lại triều đình, nhưng chưa bao giờ lại có một hình thức kỳ lạ và quái dị như các trại tập trung “cải tạo” như Cộng Sản VN du nhập vào từ các nước “quan thầy” của họ là Nga-Tầu để giam giữ nhiều trăm ngàn người dân một lúc.
Cho nên trong trại tôi ở miền Bắc có một bác rất là hiền lành và ít nói tên là Vỹ, người quắc thước để râu bạc phơ. Bác thuộc về bên đảng phái nên bị đi “cải tạo”, có hôm ngay tại “hiện trường” lao động bác đã quá bực tức vì cái án tập trung “cải tạo” vô hạn định này mà la lên rằng:
-”Tôi cũng đã bị ở tù nhiều lần trước kia nhưng chưa bao giờ thấy cái tù nào nó kỳ quặc như lần này.”
-”Ông Trời không biết có thấu không chứ tôi hết chịu nổi cái tụi này rồi.”.
Bác cứ la inh ỏi cả một góc khu vườn trồng rau cải bẹ xanh, bác  bỏ cả cái cuốc cái thúng mủng bên cạnh mà đập tay đập chân xuống đất mà la đến khản cổ. Nhưng chỉ có chúng tôi nghe thấy mà thôi vì tay quản giao lấy xe đạp chạy đi mất từ sáng nên không xẩy ra chuyện gì.
Bởi thế khi mà chúng tôi bước vào trại tập trung, chính mình cũng không ngờ rằng mình đang mang bản án còn hơn tù chung thân vì tập trung – là hình thức sao chép nguyên bản lại từ Liên Xô – có nghĩa là không có thời gian hạn định và họ muốn giam giữ đến bao giờ thì giam.
Người tù không hề được ra trước tòa để biện minh cho mình, không hề được thông báo cho biết hạn tù là bao lâu và không bao giờ có quyền thắc mắc.
Cứ hết hạn ba năm thì trên Bộ Nội Vụ của họ tự động chồng thêm ba năm nữa và người tù không hề hay biết.
Một điều người tù có thể biết là tù nhân chỉ là một công cụ sản xuất để “làm ra của cải vật chất cho trại” qua cái từ ngữ lừa bịp là “lao động vinh quang” với một khẩu phần ăn nếu chỉ ngồi không, không phải lao động ngoài nắng mưa giá rét, thì cũng khó mà tồn tại.
Cứ lao động cứ “vinh quang” như vậy cho đến hơi thở cuối cùng và được cho một bộ ván sáu miếng rồi khênh lên nghĩa trang trên ngọn đồi là xong một kiếp người.
Một điều rất oái oăm và đau lòng là khi sống người tù chẳng bao giờ được ăn một bữa ăn tương đối no bụng nhưng khi nằm xuống thì được đặt trước mộ một bát cơm trắng đầy và một quả trứng gà luộc. Chỉ ngay tối hôm đó chưa qua ngày hôm sau thì bát cơm và quả trứng ấy cũng biến mất và chỉ còn lại nấm mồ đơn sơ nhiều khi cũng không có cả tấm bia mộ đề tên người quá cố.
Giòng đời vẫn cứ trôi và ngàn năm mây vẫn bay và người tù vẫn kéo lê cuộc đời lao tù, sống dở chết dở.
Quả thật chẳng có gì chán nản và dễ mất tinh thần hơn là ở tù dù là tù chính trị, chẳng thế mà ông bà ngày xưa đã nói “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” và “nhất tội nhì nợ”. Thời gian này là thời gian chết trong đời sống mỗi ngày của người tù, nó như kéo họ xuống đáy sâu của hỏa ngục, mà họ vẫn cứ phải lê bước đi cho đến hết con đường buồn thảm đó, không có cách nào khác.
Lâu lâu, vào những dịp lễ Tết thì trại lại thả một số người, khi thì vài anh lúc thì vài chục người và những người không có tên thì tiếp tục trong bốn bức tường và ở lại trong một tâm trạng buồn chán hơn và mất tinh thần hơn.
Mục đích họ có những đợt thả, dù là nhỏ giọt, là nhằm thúc đẩy những người tù “cải tạo” tích cực hơn, nhưng trên thực tế thì hiệu quả lại ngược chiều vì mọi người đều nhận thấy một sự thực là bản án nặng hay nhẹ, ở tù lâu hay mau chính là dựa vào lý lịch chứ không hề dựa vào sự “cải tạo” nào cả.
Những người trong các “diện” liên quan đến tình báo, ANQĐ, cảnh sát đặc biệt thì chẳng hề thấy tên mình trong danh sách được thả sớm bao giờ.
Thêm vào đó là những đợt Bộ Nội Vụ xuống trại thẩm vấn liên tục, mỗi đợt kéo dài hàng tháng. Họ bắt người tù đa số là nằm trong các “diện” nêu trên phải nhận tội trong các bản gọi là “Tự Khai”.
Tôi cũng nằm trong số đó và họ đã thẩm vấn không biết bao nhiêu lần, mỗi lần cách nhau chỉ vài tháng cũng một nội dung như vậy.
Bắt người tù khai đi khai lại một câu chuyện bao nhiêu lần, khai vừa xong thì lại nhận được một sấp giấy và cái bút chì bắt khai lại vì chưa đủ “thành khẩn”. Ban đầu thì chúng tôi những người bị thẩm vấn lấy làm rất khó chịu và suy nghĩ rất nhiều vì không biết họ muốn cái gì, nhưng dần sau này hiểu ra cách “làm Việc” của họ nên cứ bản cũ sao chép lại là xong dù họ có hài lòng hay không cũng vậy.
Phương pháp thẩm vấn của họ đều giống nhau là tìm mọi cách khủng bố tinh thần người tù, rồi dụ dỗ để khai ra càng nhiều tội càng tốt chứng tỏ lòng “ăn năn hối cải” của mình để được “khoan hồng” sớm.
Nhưng thực tế, bản án dành cho người đó đã có sẵn.
Họ bắt khai nhiều lần để xem có vô tình khai ra điều gì mới hay không, bởi thế khi khai xong lần đầu thì tôi kín đáo viết lại vào nhiều chỗ khác nhau các chi tiết để ghi nhớ lần sau khai đúng như vậy.
Phải ghi lại nhiều chỗ và phải viết tắt vì thường xuyên họ có đợt kiểm tra “đôt xuất” chỗ nằm và tư trang. Tôi rút kinh nghiệm vì có lần họ bất ngờ xộc vào buồng hỏi chỗ nằm của tôi để kiểm tra “nhạc Vàng”. May mà tôi hay nằm trên góc sàn từng trên nên kịp thời tẩu tán hai cuốn Kinh Phật trước khi tay trực trại leo lên bắt đổ hết mọi thứ trong ba lô ra. Có thể họ đã thấy tập chép tay các bài hát của thời VNCH mà tôi cho anh bạn buồng bên cạnh mượn. Cuối cùng chẳng tìm được gì, họ chỉ nói vài câu cảnh cáo rồi leo xuống.
Để rút kinh nghiệm cho việc đấu trí với cách thẩm vấn của họ nên mỗi buổi chiều, chúng tôi các người được gọi ra “làm việc” trong lúc đi bộ trước sân thường trao đổi với nhau.
Anh Quang ‘sừng”, người thợ thật khéo tay tạc các bức tượng Phật và tượng Chúa, hay các kỷ vật bằng sừng trâu đã kể cho tôi nghe khi ra thẩm vấn ban sáng là tay cán bộ thẩm tra hỏi anh  ý như khoe về “chính sách khoan hồng” của họ:
-”Anh nhận xét sao về chính sách này mà nhà Nước đã tạo cơ hội cho các anh?” Anh Quang bình tĩnh trả lời một cách thản nhiên:
-”Tôi chỉ biết rằng trong chế độ VNCH chúng tôi trước kia nếu giam giữ mà không có án thì còn hơn là tù chung thân, bị tù mà còn bị lao động như vậy là tù khổ sai, bị đưa ra khỏi miền Nam là lưu đầy.”
Tên cán bộ bị khựng lại và đổi qua đề tài khác.
Phần tôi khi ra “làm việc”, tay cán bộ của Bộ Nội Vụ tóc đã hoa râm rót chén trà nóng mời tôi theo thủ tục, châm điếu thuốc lá hút rồi hỏi có vẻ mỉa mai là tôi có lúc nào nghĩ rằng trước kia như vậy mà nay ngồi ở đây hay không. Tôi trả lời nhẹ nhàng rằng nếu biết như vậy thì tôi đã đi từ lâu chứ không có ngồi như ngày nay ở đây đâu. Tôi cũng cho họ biết rằng họ đã chiếm được miền Nam, họ có thể kiểm chứng nhiều nguồn tin nhưng tôi chẳng có gì cần phải dấu diếm như họ kết tội tôi; còn như nếu mà họ cứ không tin thì tôi cũng đành chịu chứ khai tới khai lui cũng chỉ có thế mà thôi.
Suốt bốn năm đầu, vừa đói khát vừa xuống tinh thần vì lo nghĩ đến gia đình lại chồng thêm cái mất ngủ do những buổi “làm việc” liên tục và căng thẳng với Bộ Nội Vụ của họ nên chúng tôi sa sút thấy rõ nhưng vẫn trước sau khai như một.
Có lẽ thấy cũng tốn thời gian mà không khai thác được gì thêm nên từ đó họ bỏ hẳn không còn xuống “làm việc” nữa.
Không biết có phải nghiệp chướng tù đầy của chúng tôi đã được Trời Đất thuyên giảm cho hay không, hay vì chúng tôi đã nhẫn nhục chịu đựng mọi gian khổ thử thách một cách can trường, mà cùng lúc với việc họ không xuống trại làm nhức đầu chúng tôi nữa thì gia đình cũng được tin cho vào trại thăm nuôi để mở ra một chương hoàn toàn mới và nhiều thay đổi lạ kỳ cho người tù.
Chị Liên, bà chị con bác Phán, từ Hà Nội vào thăm tôi lần đầu tiên và hai chị em sau một phần tư thế kỷ gập lại nhau thì chị vẫn giả lả nói những lời khuôn sáo rỗng tuyếch như khuyên tôi cố gắng lao động, chấp hành tốt nội quy, nhưng khi thấy tên cán bộ bỏ ra ngoài cửa thì nắm lấy tay tôi nói:
-”Sao em gầy thế, chị nhớ hồi chị ra thăm Ba Mợ ở Hải Phòng trước khi Ba Mợ di cư vào Nam thì em bụ bẫm lắm. Em phải cẩn thận giữ sức khỏe nhe, còn lâu đấy!”. Rồi chị lau nước mắt ra về.
Các chị con bác Phán, bác là chị Cả và Ba tôi là thứ Hai nhưng là trưởng tộc, vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi vì ngày xưa khi gia đình Ba Mẹ tôi giầu có ở cái dinh thự lớn nhất nhì Hải Phòng thì Mẹ tôi rất biết ăn ở và có lòng thương người kể cả họ hàng và ngay cả các chị vú nuôi chúng tôi cũng xem Ba Mẹ tôi như gia đình của các chị vậy.
Ngày xưa thì tình cảm rất là gắn bó giữa người vú nuôi và người con trong gia đình, người vú được coi trọng như là người mẹ thứ hai vậy. Nhiều khi các chị vú thương chúng tôi quá đến nỗi Mẹ tôi dục dã mãi mới bịn rịn về thăm quê ngày Tết hay giỗ chạp.
Ngày mà Ba Mẹ tôi khá giả bắt đầu từ căn nhà mà Mẹ nói là “nở hậu” ở đường Cát Dài thì Mẹ tôi cũng đón về nuôi luôn hết gia đình Bà Hai của ông Đốc khi ông mất, để trả lại ơn ngày xưa trên Yên Bái lúc Ba Mẹ tôi còn hàn vi cũng nhờ ông Đốc lúc đó mở phòng mạch cưu mang một thời gian.
Mẹ tôi thường cho tài xế đi đón các chị con bác Phán từ Hải Dương ra Hải Phòng chơi, và mỗi lần như vậy thì Mẹ tôi lại dắt các chị đi mua sắm áo quần, vòng vàng, giầy dép đủ thứ, và được đi ăn ở những hiệu ăn sang trọng nữa nên các chị rất quý mến Mẹ tôi.
Khi quyết định di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi để lại hết ngôi dinh thự này cùng tất cả tài sản xe cộ cho gia đình người chị ruột là bác Phán vì bác trai không muốn bỏ xứ ra đi. Vì lý do đó mà gia đình bác Phán nhất là các chị vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi, các chị gọi Ba Mẹ tôi là Cậu Mợ nhưng mà thương cũng như Bố Mẹ ruột mình vậy.
Khi Mẹ tôi nhờ chị Liên đi dò đường trước để vào trại thăm tôi thì chị nhận lời ngay dù là lúc đó dân chúng ngoài Bắc họ rất sợ dính vào chính trị nhất là di thăm tù chính trị từ trong Nam.
Đến khi Mẹ tôi và em Tuyết kế tôi ra Bắc thăm tôi lần đầu tiên thì các chị con bác Phán đón tiếp Mẹ tôi như bà hoàng.
Các chị hỏi Mẹ tôi thích ăn gì để đãi cơm, Mẹ tôi nghĩ Hà Nội cũng như Sài Gòn nên nói là bún chả. Báo hại các chị chạy khắp Hà Nội để mua ít than quả bàng về mới quạt được mẻ thịt nướng. Khi biết ra thì Mẹ tôi cứ xin lỗi mãi vì có ra tận ngoài Bắc thì mới hiểu được cái nghèo khổ thiếu thốn và sự túng quẫn nó như thế nào mà người dân đã phải sống dưới chế độ XHCN từ năm 1954 đến bấy giờ là một chín bẩy chín.
Trong thời gian tôi ở tù kể ra thì cũng có nhiều quý nhân giúp đỡ ngoài các anh chị con bác Phán.  Một ông anh rể bên vợ tôi lúc đó ở Hà Nội cũng vào thăm tôi và nói thẳng rằng:
-”Anh có bạn quen ở Bộ Nội Vụ và anh có nhờ họ xem dùm hồ sơ của em và thấy ghi trên đó là CIA.” Anh ngừng một chút rồi nói tiếp:
-”Anh vào thăm em lần này để cho em biết, nếu không lo thì anh sợ em sẽ phải ở rất lâu đấy. Em hãy nói với Mẹ em đi nếu chịu thì anh sẽ lo cho.”
Tôi nhìn anh một lát. Lúc đó tôi đã gập Thầy Tâm là người thầy đã dậy cho tôi về đạo Phật và về nghiệp lực. Trong lòng tôi suy nghĩ rất nhanh,  tôi bèn nói với anh:
-”Cám ơn anh đã vào thăm em. Em biết ở nhà em bây giờ bán hết rồi các xe cộ và cả các bộ vest cũng bán luôn. Mẹ em thì chẳng còn tiền sau khi anh Hai và cậu em út của em đi vượt biên bị bắt lại. Thỉnh thoảng Mẹ em gom được ít tiền gửi qua bưu điện vào đây cũng là quý lắm rồi, làm gì còn “cây” nào nữa đâu mà “chạy”. Họ nghi em là CIA thì đành chịu thôi biết làm sao”.
Tôi vào trại kể lại cho thầy Tâm nghe, thầy nói tôi đã quyết định như thế là đúng và cứ chuyên tâm niệm Phật. Từ đó tôi kiên nhẫn đếm từng ngày qua đi trong bốn bức tường trong khi học hỏi thêm về đạo Phật, quan sát nhận xét và thâu thập kinh nghiệm qua những người bạn tù mà tôi quý mến.
Các điều chúng tôi phán đoán việc thả nhanh hay chậm là do lý lịch chứ không do “cải tạo” tốt hay xấu dần dần càng sáng tỏ .
Có những anh vừa bị kỷ luật xong thì vài bữa sau có tên tha về, cho nên sự tuyên truyền của họ về “khoan hồng”, về “cải tạo” thành người công dân tốt đều tan ra mây khói. Không còn ai tin nữa; và anh em mỗi người đều tự cố gắng giữ gìn sức khỏe cho con đường lưu đầy còn dài thăm thẳm trước mắt.
Đến lúc đó thì chúng tôi mới bàng hoàng nhận ra một sự thực đau lòng là mình trước kia chống Cộng mà kết cuộc lại thì chính mình cũng không hiểu Cộng Sản là như thế nào.
Nếu biết thực chất của Cộng Sản tàn bạo, vô tổ quốc, vô tôn giáo và vô dân tộc và người Cộng Sản chỉ cần có cái chủ nghĩa xã hội của họ mà thôi thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng chứ không chịu nghe theo lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh để rơi vào tay họ như thế này.
Riêng tôi và các bạn làm cho tòa đại sứ hay lãnh sự quán HK tại miền Nam trước kia thì còn mang theo một mối ưu tư là tại sao người Mỹ, nói đúng hơn là chính phũ Mỹ bấy giờ hay các cấp có thẩm quyền Mỹ tại Sài Gòn đã cố tình bỏ rơi chúng tôi lại để rồi rơi vào tay Cộng Sản?
Một mặt thì tòa đại sứ HK theo lệnh của Washington cho phép những người làm cho cơ quan D.A.O – Defense Attache’s Office: Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự – được di tản mấy tháng trước khi Sài Gòn sụp đổ; mặt kia thì yêu cầu chúng tôi, những nhân viên tòa đại sứ Mỹ, phải ở bên cạnh các Phủ Bộ của chính phủ VNCH để yểm trợ cho đến giờ phút cuối cùng thì mới được di tản.
Nhưng giây phút cuối cùng ấy thì trực thăng đã không đến đón gia đình chúng tôi như họ đã hứa. Người Mỹ đã chỉ đưa ra khỏi miền Nam những thành phần không quan trọng hay một số nhỏ các cấp chỉ huy của VNCH mà thôi.
Họ lấy cớ là sân bay Tân Sơn Nhất bị phá hủy phi đạo bởi tên phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung vào ngày 28-4-1975 nên chương trình di tản đường hàng không phải đình chỉ.
Thế nhưng theo chương trình mà tôi họp với họ một ngày trước đó là ngày 27 tháng 4 năm 1975 tại sứ quán HK ở Sài Gòn thì họ đã có dự trù về việc nếu có trở ngại về di tản đường hàng không thì HK có “plan B” là thiết lập ngay một lối di tản bằng đường bộ từ Sài Gòn ra Vũng Tầu với năm ngàn lính TQLC Mỹ từ Đệ Thất Hạm Đội sẽ lên bờ và được sử dụng để bảo vệ cho cuộc di tản cho tới khi hoàn tất.
Chính phủ HK qua tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã hủy bỏ “plan B” không muốn đưa thêm người ra khỏi miền Nam nữa và hủy bỏ luôn việc đón chúng tôi – những nhân viên mà ở lại tính mạng có thể nguy hiểm trong tay Cộng Sản.
Trong đầu tôi có nhiều câu hỏi mà tôi đang đi tìm câu trả lời nhưng có một điều tôi biết chắc rằng nếu tôi chỉ làm việc thuần túy tại tòa đại sứ HKởi Sài Gòn thì tôi và gia đình có thể cả Mẹ và các em tôi đã ra đi được trước ngày mất miền Nam.
Vì yểm trợ cho Phủ ĐUTƯTB nên tôi mới bị kẹt lại và vào tù chung với bên Phủ và từ đó Bộ Nội Vụ của họ vốn chủ trương “bắt lầm hơn tha lầm” đã suy diễn ra tôi là người làm việc cho CIA, và hơn nữa có thể được cài lại cho kế hoạch hậu chiến. Vì thế tôi không ngạc nhiên khi trong các buổi thẩm vấn họ đều cố dò hỏi về kế hoạch hậu chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhất là ở miền Nam, nhưng tôi trước sau đều lắc đầu.
Trong nhiều năm tôi đã cố tìm hiểu tại sao người Mỹ lại nhẫn tâm bỏ rơi chúng tôi trong khi người Mỹ biết chắc chắn rằng khi rơi vào tay Cộng Sản sau khi mất miền Nam thì chúng tôi sẽ gần cái chết hơn là cái sống hoặc giả nếu còn sống sót được thì sẽ phải ở tù mọt gông?
Một dịp may đã phần nào giải tỏa thắc mắc của tôi hôm mà tôi đọc được bài viết của một vị luật sư người Cu Ba lưu vong.
Tình cờ và may mắn tôi có trong tay tập san Reader’s Digest đăng bài của một vị luật sư ái quốc người Cu Ba về vụ thất bại của cuộc đổ bộ tại Vinh Con Heo thì tôi thấy lạnh xương sống khi so sánh với việc HK đã bỏ rơi đồng minh VNCH tại miền Nam một cách thật nhanh chóng thật dứt khoát và không thương xót, nhất là bỏ rơi các thành phần nguy hiểm như tôi và các bạn đồng nghiệp vào tay Cộng Sản.
Cũng như vụ đổ bộ Vinh Con Heo để giải phóng Cu Ba khoảng năm 1962 đã thất bại vì chính phủ Mỹ bấy giờ với TT John F. Kennedy phút cuối cùng đã rút tầu chiến ra khơi bỏ mặc cho hàng ngàn chiến sĩ Cu Ba ưu tú trên bãi biển làm mồi cho Fidel Castro mới lên nắm quyền tha hồ tàn sát không thương tiếc.
Một vị luật sư người Cu Ba đã trốn thoát khỏi nước qua được HK sau vụ đổ bộ thất bại đó đã thề rằng nếu cần thì ông sẽ dùng hết cuộc đời của mình để tìm hiểu tại sao HK lại hủy bỏ kế hoạch vào phút chót thì ông cũng làm. Ông đã vào các thư viện, qua bạn bè đến tận Bộ Quốc Phòng HK, xem được các tài liệu mà sau 20 năm đã được bạch hóa thành non-confidential thì đã tìm ra câu trả lời.
Chiến dịch giải phóng này đã được thành hình dưới thời TT Eisenhower, các người Cu Ba lưu vong tại HK được huấn luyện chu đáo cho cuộc đổ bộ cướp lại chính quyền từ tay Fidel Castro đang theo chế độ xã hội chủ nghĩa là một cái gai ngay bên cạnh hông của HK cần phải nhổ.
Mọi việc diễn tiến hoàn hảo và các chiến hạm và các phi đội chiến đấu oanh tạc cơ HK sau khi đổ bộ lực lượng các chiến sĩ Cu Ba này xong lên Vịnh Con Heo thì sẽ làm cỏ không quân của Fidel Castro vốn còn yếu ớt và yểm trợ cho lực lượng này vào giải phòng thủ đô của Cu Ba là xong.
Khi TT Kennedy lên thì không hiểu sao kế hoạch vẫn thực hiện như thường lệ cho đến khi vị tư lệnh chiến trường người Cu Ba vừa đặt chân lên Vịnh Con Heo thì ông bèn gọi cho phi cơ và chiến hạm HK nã pháo vào thủ đô và sân bay trên đảo nhưng không có tín hiệu trả lời và nhìn thấy các chiến hạm HK từ từ rút ra ngoài khơi bỏ mặc họ bơ vơ trên bãi biển.
Ông nhìn thấy các chiến hạm HK rút ra khơi y như nhìn thấy bản án tử hình cho mình và các chiến sĩ Cu Ba lưu vong đang phơi mình tại Vinh Con heo này.
Sau một thời gian án binh bất động như tê liệt vì quá hãi sợ trước cuộc tấn công bất thình lình của lực lượng hùng mạnh Cu Ba lưu vong, cho đến khi biết các chiến hạm HK đã rút lui không can thiệp nữa, hay có thể Cu Ba đã được mật lệnh từ Moscow cho nên Fidel Castro đã mạnh dạn tung quân ra và cho các máy bay cũ kỹ của mình ra bãi biển tàn sát lực lượng vừa đổ bộ. Một số lớn chết và bị thương, một số còn lại bị bắt và bị Fidel Castro ra lệnh tra tấn tàn nhẫn và hành hình dã man.
Theo vị luật sư ái quốc người Cu Ba này thì lý do là vì TT Kennedy không muốn đối đầu với Liên Xô tại Cu Ba, nhưng tại sao không hủy bỏ kế hoạch ngay từ đầu để hàng ngàn người Cu Ba yêu nước bị chết thảm khốc thì không thể hiểu được một nước văn minh hàng đầu thế giới là HK lúc đó nghĩ gì? Hay HK muốn dùng thân xác của hàng ngàn chiến sĩ Cu Ba lưu vong đó trên Vịnh con Heo như là một tín hiệu của HK cảnh cáo Nga Xô qua Fidel Castro?
Ông cho rằng HK muốn duy trì một nước Cu Ba Cộng Sản ngay bên hông nước Mỹ để dân chúng Mỹ biết sợ hãi mà ủng hộ các chương trình chạy đua vũ trang của chính phủ HK lúc bấy giờ.
Từ đó tôi tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi của tôi là người Mỹ đã plan một kế hoạch hậu chiến để tiếp tục “đánh” Cộng Sản trên phương diện chính trị và nhân quyền.
Người Mỹ biết rằng các thành phần như tôi hay làm cho các ngành tình báo quân báo và ANĐ chẳng hạn thì Cộng Sản khó mà thả ra sớm trước mười năm và đó là lá bài mà mà Mỹ có thể “tấn công” Cộng Sản VN để đạt tới những mưu đồ khác của họ.
Người Mỹ cần có những lá bài để có thể làm khó dễ CSVN, để “đánh” đòn nhân quyền, “đánh” về chính trị hầu buộc CSVN phải phần nào thỏa hiệp với Hoa Kỳ theo kế hoạch hậu chiến của Mỹ.
Chúng tôi những người tù cuối cùng chính là một trong những lá bài quý giá đó trong tay người Mỹ.
Chính vì thế mà họ đã chọn lựa mục tiêu nào cần thiết để bốc đi trước và con số hơn một trăm ba chục ngàn người miền Nam từ các sứ quán các vùng và tại tòa đại sứ Mỹ Sài Gòn được di tản trước ngày 30-4-1975 toàn là những thành phần văn phòng, tài xế, thư ký không nguy hiểm nếu bị bỏ lại.
Người Mỹ đã đạo diễn hết từ lúc có ý định rút lui khỏi miền Nam năm 1972 sau cái bắt tay giữa Kissinger và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.
Họ sắp xếp mọi chuyện chi li đến từng chi tiết cách bỏ rơi miền Nam, từ chiến thuật “Việt Nam Hóa” chiến tranh thời Nixon, trao toàn bộ trách nhiệm cho VNCH trong công cuộc chống Cộng, một mình VNCH chống lại cả một khối Cộng Sản Quốc Tế cho đến ký kết Hiệp Định Paris.
Họ trực tiếp đàm phán với Bắc Việt trong nhiều năm và để chúng ta ngồi ngang hàng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là VC để chúng ta không thể có ý kiến gì được trong khi họ dàn xếp với Bắc Việt về cuộc chiến tranh mà VNCH đang đóng vai chính và về những gì mà Kissinger  và Nixon đã hứa với Chu Ân Lai.
Họ làm ngơ trước các vi phạm của Bắc Việt và VC, họ cắt giảm nhanh chóng viện trợ để một quân lực hùng mạnh và thiện chiến nhất thế giới thời bấy giờ là QLVNCH phải lui trên mọi chiến trường, phải bỏ Cao Nguyên, Vùng II, về co thủ tại Vùng III mà chờ chết.  Họ buộc TT Thiệu phải từ chức để đưa Dương Văn Minh lên- cho ông ta ít tiền để ươn hèn mà ra lệnh đầu hàng, dâng miền Nam cho Cộng Sản như Nixon và Kissinger đã giao ước với Chu Ân Lai, Trung Cộng.
Bây giờ, họ lại bỏ rơi có kế hoạch ngay cả những nhân viên thuộc tòa đại sứ HK của họ tại miền Nam như tôi và một số anh em khác mà tôi gập trong tù như anh Sửu, anh Điệp, Chi và Hảo,v.v. Những người đã làm việc trong ngành tình báo cho họ bao nhiêu năm, nay lại bị họ sử dụng một lần nữa trong kế hoạch “đánh” Cộng Sản bằng nhân quyền sau khi họ đã làm cho miền Nam phải sụp đổ.
Cộng Sản và Hoa Kỳ giống nhau ở một điểm là họ sẵn sàng hy sinh hàng triệu người để đạt mục đích. Cộng Sản đã ném nhiều triệu thanh niên thanh nữ vào chỗ chết trong các chiến trường chống Pháp ở miền Bắc, vào trận Điện Biên Phủ, vào cuộc chiến xâm lăng hai chục năm ở miền Nam hầu nhuộm đỏ toàn bộ đất nước.
Người Mỹ thì sẵn sàng hy sinh mười bẩy triệu người dân miền Nam để đổi lấy mậu dịch với Trung Cộng kể từ năm 1972.
Điểm khác biệt là người Mỹ không hy sinh dân chúng Mỹ mà đem mười bẩy triệu dân chúng miền Nam ra để hy sinh trong cuộc trao đổi với Tầu Cộng nhưng Cộng Sản thì hy sinh chính người dân cùng giòng  giống da vàng với họ để làm vừa lòng quan thầy của chúng là Nga-Tầu.
Một số anh khi ra “làm việc” đã nói thẳng với đám cán bộ Bộ Nội Vụ rằng:
“Các ông chẳng có gì mà khoe khoang về chiến thắng tại miền Nam hết, chính người Mỹ đã làm cỗ sẵn và mời các ông đến ăn mà thôi. Thử nhìn xem, Nha Trang đã ba ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng vẫn là thành phố bỏ ngỏ; các ông có mống nào dám vào “tiếp thu” chưa?”
Quả là về chính trị mà nói thì không thể có tình người mà dùng thân xác con người để lót đường cho bước đường chính trị của những tay hoạt đầu như Kissinger, Lê Đức Thọ, Nixon.
 Các tay tài phiệt nằm sau lưng chính phủ HK thổi bùng lên phong trào phản chiến tại Wasington cuối thập niên sáu mươi đòi rút quân Mỹ về nước, đòi bỏ rơi miền Nam để tiến nhanh đến làm ăn với Trung Cộng trên một tỷ người là viễn ảnh hấp dẫn hơn nhiều – dù là miền Nam có thể thành núi xương biển máu thì xương máu của người miền Nam chứ xương máu của người Mỹ đâu mà họ lo.
Những nỗi đau đó lại phủ lấp trên phần đất Tự Do của miền Nam. Chúng ta có Chính Nghĩa mà chúng ta lại thất trận là vì lý do đó.
Sau này một số thành phần phản chiến người Mỹ tỏ ra hối hận nhưng tất cả đều đã quá trễ khi họ thấy hàng triệu người VN bất chấp hiểm nguy đã vượt biên, hàng trăm ngàn chết ngoài biển khơi, hàng triệu người phải vô tù.
Sau cuộc chiến nhìn lại thì tựu chung người trong tù vẫn luôn là những người bị nhiều thiệt thòi nhất – khi mà mọi nơi đã ngưng tiếng súng trên quê hương miền Nam, khi mà nhà tù mọc lên như nấm thay vì trường học.
Có sống trong những giai đoạn ngục tù và lưu đầy đó mới thấy được cái đau đớn trong tâm thức không nói ra được của mỗi người tù.
Một mặt thân xác rã rời sau một ngày lao động, buổi tối những đêm mùa Đông co ro lạnh cóng vì không đủ quần áo ấm chăn mền, vì bụng đói cồn cào đến hoa cả mắt; mặt khác thì lo nghĩ đến vợ con gia đình ở nhà không biết ra sao. Cho nên khi mà con người ta quá căng thẳng thần kinh và quá rệu rã về thể lực thì nhiều người đã tìm cách quyên sinh cũng không phải là không có lý của họ.
Đó là sự giải thoát ngắn nhất để mỗi ngày không phải nghe cái điệp khúc đáng nguyền rủa nhất là tiếng kẻng báo thức, kẻng xuất trại đi lao động, kẻng nghỉ “giải lao”, kẻng thu quân, kẻng điểm danh vào buồng và nhiều khi cả đêm chưa ngủ yên thì đã nghe tiếng kẻng đánh thức rền vang lên khắp trại giam và núi rừng.
Tiếng kẻng là cái gì mà chúng tôi thù ghét nhất mà lại phải sống với nó mỗi ngày giờ và quanh năm bốn mùa.
Một điều cười ra nước mắt và lần đầu tiên nhìn thấy làm tôi vô cùng kinh ngạc không tin ở mắt mình nữa là ngay cả trâu bò cũng nghe và hiểu được tiếng kẻng và phân biệt được các loại kẻng báo hiệu nữa mới lạ.
Thí dụ như vừa mới nghe kẻng “giải lao” kêu “keng!keng!” lanh lảnh từ xa trong trại vọng ra ngoài cánh đồng là con trâu nằm phịch ngay xuống luống cầy không cần suy nghĩ gì, không cần phải chờ lệnh từ người thợ cầy với nó cũng là tù nhân. Nó thở phì phò một cách mệt nhọc vì chính nó cũng không được ăn uống no đủ để mà “lao động trong vinh quang” nữa.
Con vật trong cái xã hội chủ nghĩa – mà người Cộng Sản vẫn khoe khoang không biết xấu hổ rằng XHCN là “thiên đường”, là tốt đẹp hơn nghìn lần chế độ tư bản “bóc lột” đang dẫy chết- cũng thật đáng thương vì nó đã sinh lầm vào chế độ đó.
Huống chi con người, những tù nhân chính trị chế độ cũ trong trại giam của một nước Cộng Sản đang đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng nghèo đói lạc hậu, lòng hận thù nhỏ nhen và sắt máu nhất thế giới.
Phần XX: Sài Gòn Ngày Tháng Cuối 
Trong suốt bao nhiêu năm nhưng tôi vẫn không sao quên được những ngày tháng cuối cùng của Sàigòn mà tôi đã sống.
Những ngày mà thành phố bất ngờ lâm trọng bệnh vào cơn hấp hối, nhưng vẫn cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng mới chịu buông xuôi hai tay.
Tôi cũng không thể nào quên nổi vì đâu mà cả chế độ của một quốc gia hùng mạnh như VNCH, lúc đó phát triển ngang hàng với Phi Luật Tân, Đại Hàn, hay Đài Loan, đã phút chốc bị tan tác như xác pháo.
Và vì đâu mà hầu như nguyên một chế độ theo chân nhau…vào tù trong bàng hoàng và đau thương.
Tôi theo Mẹ tôi leo lên trên lầu. Căn nhà số ba năm bẩy này có một lầu nhìn ra con đường Trương Minh Giảng. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa sổ để có thể có được một cái nhìn khái quát những xáo trộn và ồn ào mà mười mấy năm nay tôi chưa từng bao giờ thấy xẩy ra trên đường phố này. Những khuôn mặt ngơ ngác của dân chúng, người
ôm giỏ người xách va li vừa đi vừa chạy.
Phía bên kia đường, một vài binh sĩ VNCH cũng đi lẫn vào dân trên đường họ về nhà hay đi đâu thì tôi cũng không biết được nữa. Nhìn dáng đi thẫn thờ của những người lính mà lòng tôi quặn đau khi nghĩ rằng anh tôi, Thiếu Tá tiểu đoàn trưởng của Sư Đoàn 5 BB QLVNCH ở Bình Dương bây giờ cũng bặt tin không biết ra sao.
Đầu óc tôi thường rất bén nhậy mà lúc đó cũng gần như tê liệt không nghĩ được phương kế gì.
Dương Văn Minh – (người vừa được đưa lên chức vụ Tổng Thống để thay thế cụ Trần Văn Hương, một nhà chí sĩ yêu nước nhưng đã bất lực trước thời cuộc) – vừa đọc thông điệp đầu hàng và kêu gọi mọi người buông súng.
Lúc đó khoảng hơn mười giờ sáng ngày 30-4-1975, giờ Sài Gòn.
Tôi đã đưa gia đình lên ở với Mẹ và các em từ hai ngày nay vì căn nhà tôi trong Phú Lâm tuy thuộc Quận Sáu nhưng không được an ninh cho lắm. Cứ tạm thời ra trung tâm thành phố để tránh các toán VC nằm vùng ở ngoại ô có thể xuất hiện bất ngờ trong hiện tình đất nước đang tranh tối tranh sáng như mấy ngày hôm nay.
Ngoài ra tôi cũng muốn ra ngoài Sàigòn trong những ngày rất là biến động về chính trị này để giữ liên lạc với các bạn đồng nghiệp trong lúc chờ đợi người Mỹ sẽ bốc đi cùng gia đình.
Đó là sáng ngày 28-4, sau khi người Mỹ đột ngột ngưng chương trình di tản bằng đường hàng không, cho nên mọi người ai cũng tìm đường ra đi trước khi quá trễ.
Có người bạn rủ vào khu vực Hải Quân trên Bến Bạch Đằng xem sao nhưng tôi lại không đi, vì tôi cố chờ đợi để đi theo chương trình ấn định của Tòa Đại Sứ Mỹ trong buổi họp cuối cùng.
Đi theo chương trình này, tôi sẽ đem theo không những gia đình mình mà cả Mẹ và các em nữa, danh sách này tôi đã nộp cho Tòa Đại Sứ Mỹ xong rồi.
Theo tinh thần của buổi họp cuối cùng của Đoàn Liên Lạc HK mà hầu hết các nhân viên người Mỹ, Việt và Á Châu trong đó có tôi đều tham dự thì người Mỹ rất có quyết tâm để đưa đi tất cả những nhân viên đang làm việc cho Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn và gia đình của họ, nhưng chương trình nêu ra vài điểm đặc biệt về thứ tự ưu tiên:
–Ưu Tiên Một:
Dành cho các nhân viên đã lánh nạn Cộng Sản chạy từ sứ quán Vùng I và Vùng II về Sàigòn sẽ được ra đi trước với gia đình họ.
– Ưu Tiên Hai (Non-Essential):
Các nhân viên trong Tòa Đại Sứ kể cả người Mỹ lẫn người Việt được chia ra làm hai loại:
“Không Thiết Yếu” (“Non-Essential”) và “Thiết Yếu” (“Essential”).
*Theo sự sắp xếp thì những nhân viên “Không Thiết Yếu” được ra đi trước vì nhiệm vụ của họ không còn cần thiết nữa tại đây.
*Các nhân viên “Thiết Yếu” là những người đang sát cánh với các cơ quan Phủ Bộ của chính phủ VNCH thì phải ở lại tiếp tục yểm trợ các Phủ Bộ này cho đến giờ phút chót để tránh cho chính phủ VNCH có thể sụp đổ sớm nếu tất cả sự yểm trợ của người Mỹ rút đi cùng một lúc.
-Tòa Đại Sứ Mỹ sẽ quyết định lúc nào là thời điểm -có thể trong tình hình dầu sôi lửa bỏng thì các nhân viên Việt-Mỹ thuộc dạng “Thiết Yếu” mới được bốc đi bằng trực thăng cùng gia đình.
*Thuyết trình viên một viên chức cao cấp người Mỹ bảo đảm là sẽ bốc hết tất cả mọi người còn lại và lập đi lập lại lời cam kết sẽ bốc đi tất cả các nhân viên thuộc dạng “Thiết Yếu”.
–Plan B: Nếu cần thiết thì 5 ngàn TQLC HK từ Đệ Thất Hạm Đội sẽ đổ bộ vào Vũng Tầu và thiết lập một con đường bộ nối liền SàiGòn ra Vũng Tầu – một con đường “Thép” an toàn cho việc di tản không bị gián đoạn.
*Chương trình di tản này dự trù sẽ kết thúc vào ngày 15-5-1975.
-Ngoài ra cần nói rõ thêm là trong các ưu tiên hàng đầu thì phải nói đến Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự D.A.O của Mỹ đã bắt đầu chương trình di tản trước tiên cho nhân viên của họ ra khỏi Sàigòn từ khoảng tháng 2-1975; và nhờ đó mà chị dâu tôi và hai cháu đã đoàn tụ với anh thứ Ba HQ của tôi đang tu nghiệp tại Rhode Island bên Mỹ vào tháng 3-75.
Mấy lần anh quá sốt ruột về tình hình sẽ mất Sài Gòn nên định bỏ về nước. Tôi đã phải gửi điện khẩn qua hệ thống của Tòa Đại Sứ để khuyên anh bỏ ý định mạo hiểm về nước của anh, vì chị ấy và hai cháu sẽ qua.
Trong bốn anh em trai, gia đình anh là gia đình hạnh phúc duy nhất đã đoàn tụ trên phần đất Tự Do. Ba anh em còn lại đều… vô tù.
Sau khi nghe buổi thuyết trình về kế hoạch di tản ngày 27-4 tại Tòa Đại Sứ Mỹ, chúng tôi trong Đoàn Liên Lạc HK đều tin tưởng vào kế hoạch này và tuân thủ theo đúng lệnh họp và ở lại đến giờ phút cuối cùng chờ đợi.
Ngày 28-4, tôi chở vợ con trên chiếc xe Renault 4CV ra nhà Mẹ tôi ở Trương Minh Giảng và sau một ngày chờ đợi không có tin tức gì từ phía các cố vấn Mỹ, tôi quyết định vào văn phòng của Đoàn Liên Lạc HK trong Phủ Đặc Ủy TƯTB xem sao.
Lúc đó là sáng ngày 29-4, tôi lái xe vào Phủ Đặc Ủy lần chót, mấy anh an ninh mở cổng cho tôi vào và nhìn tôi với cặp mắt hết sức ngạc nhiên:
-Ủa! ông mà còn đây thì làm sao tụi tôi đi được?”
Tôi vẫy tay chào các anh rồi lái xe vào cổng:
-”Tôi đang liên lạc chưa được. Có gì sẽ thông báo ngay cho các anh biết để cùng ra đi.”
Tôi đậu xe vào khu vực sân bên trong rồi chạy lên lầu mở cửa vào văn phòng và dùng điện thoại liên lạc ngay vào tòa đại sứ nhưng tất cả các đường giây đều bận hoặc điện thoại reo mà không có ai trả lời.
Trong lòng tôi nóng như lửa đốt và có linh tính không hay vì mắt bên phải máy liên tục. Mẹ tôi vẫn bảo là máy mắt bên trái là may mắn hay có tiền, nhưng bây giờ toàn máy mắt phải. Tôi vừa quay máy gọi vừa mong phía bên kia đầu giây có ai đó làm ơn nhắc dùm cái điện thoại lên nhưng vẫn vô vọng.
Kể từ hôm 27-4 sau buổi họp cuối cùng về tình hình di tản cho Đoàn Liên Lạc HK thì các cố vấn Mỹ cũng biệt tăm và bây giờ hai ngày sau cũng không biết họ giờ ở đâu.
Tôi cố gắng và kiên nhẫn gọi nhiều lần trong suốt một tiếng đồng hồ với hy vọng nghe được tiếng nói của bất kỳ tay cố vấn nào trong Đoàn Liên Lạc này thì sẽ tìm ra được manh mối về điểm tập trung mới cho kế hoạch di tản sau khi phi trường Tân Sơn Nhất đã bất khả dụng nhưng mọi nỗ lực đều không có kết quả.
Có lẽ chỉ còn một ít đường giây đặc biệt nào trong Tòa Đại Sứ là còn hoạt động mà thôi, còn các đường giây khác đều bỏ trống.
Tôi ngồi đó nhìn lại văn phòng nơi mình đã làm việc năm năm trời với bao nhiêu là kỷ niệm rồi quyết định thủ tiêu hết các tài liệu. Một số giấy tờ không kịp thủ tiêu thì tôi bỏ vào trong thùng và đem xuống xe.
Khi bước ra khỏi văn phòng, tôi nhìn suốt dọc hành lang tất cả đều vắng lặng như tờ, nguyên dẫy này và dẫy bên cạnh nữa trước kia tấp nập người đi lại chạy lên xuống cầu thang thì bây giờ mình tôi đứng trên đây tựa vào lan can.
Dưới sân cũng không một bóng người, chỉ còn cây Mai Tứ Quí một mình bơ vơ giữa sân như tôi cô đơn đứng trên này.
Tôi quyết định lái xe trở về nhà Mẹ tôi để lại ngồi chờ tin nữa.
Gia đình vẫn luôn là nơi cho ta trú ẩn qua những cơn giông tố của cuộc đời. Lần này là một cơn giông bão khủng khiếp khổng lồ và đen tối nhất đang úp chụp lên miền Nam. Liệu gia đình có còn là nơi trú ẩn an toàn nữa không đây?
Dầu sao tôi vẫn phải trở về nhà, đồng hồ mới chỉ 11 giờ sáng ngày 29-4, vẫn còn chút hy vọng là những người bạn Mỹ sẽ còn nhớ đến chúng tôi để thông báo về địa điểm tập trung cho kế hoạch di tản mới.
Trên đường về, tôi thử tạt qua vài nơi mà các tay số vấn Mỹ vẫn thường lui tới làm việc bí mật gọi là các Nhà An Toàn nằm trên đường Hồng Thập Tự và Sương Nguyệt Ánh nhưng họ đều đã rút đi hết không còn một ai.
Buổi sáng ngày 29-4 ấy, sau khi không liên lạc được từ văn phòng làm việc, nếu tôi chạy xe thẳng vào Tòa Đại Sứ và tìm cách ở lại trong đó thì chắc chắn sẽ gập lại các cố vấn của Đoàn như Frank Rygalski, Vance Vincent, Jeffrey Ho, Paul hay Dick, và đêm 29-4 tôi đã leo lên nóc sứ quán vào trực thăng để bay ra Đệ Thất Hạm Đội an toàn rồi.
Nhưng không hiểu sao tôi lại không chạy thẳng vào tòa đại sứ để ở lại trong đó sáng ấy ? Một phần có lẽ vì không thể bỏ lại vợ và hai đứa con còn nhỏ dại, một phần tôi vẫn hy vọng là người Mỹ còn giữ kế hoạch bốc chúng tôi đi.
Thực tế đáng buồn là Tòa Đại Sứ HK chỉ bí mật ra lệnh cho các nhân viên người Mỹ gấp rút vào trong compound tức là trong sứ quán sáng ngày 29-4,mà không hề thông báo cho các nhân viên người Việt hay Á Châu.
Không có trực thăng nào bốc ai đi cả và các nhân viên người Việt hay gốc Á Châu thuộc Đoàn Liên Lạc HK của Tòa Đại Sứ Mỹ và hầu như toàn bộ nhân viên của Phủ Đặc Ủy TƯTB thuộc Phủ Tổng Thống (nơi mà Đoàn Liên Lạc HK yểm trợ), không ai biết địa điểm tập trung là ở đâu nữa ( cho nên tất cả sau đó đều gập nhau trong….. tù.)
Bây giờ lệnh đầu hàng đã loan đi trên làn sóng điện Saìgòn thì chúng tôi những nhân viên còn lại của Đoàn Liên Lạc KH trong đó có tôi lại càng thêm bôí rôí. Con đường ra đi đã tắc nghẹn một cách ngang xương và con đường ở lại thì tương lai mù mịt không biết về đâu.
Tình huống đã trở nên tuyệt vọng, nhiều tin loan tải đi rất nhanh; như là cả một hạm đội gần hai mươi bẩy chiếc tầu của HQVN đã ra khơi an toàn ngày hôm qua, rồi tin thiên hạ đang ùn ùn kéo nhau về miền Tây để sinh sống hay tiếp tục tìm đường di tản.
Tin tức khác nữa thì chúng ta sẽ bỏ Vùng III và lui về cố thủ tại Vùng IV vì Vùng IV Chiến Thuật là vựa thóc đủ sức nuôi quân chờ một giải pháp mới chứ chúng ta không chấp nhận đầu hàng dễ như vậy.
Hay sẽ  có một chính phủ liên hiệp và một giải pháp tốt hơn cho miền Nam cũng được nhiều người bàn tán trong đó có ông anh thứ Hai của tôi không hiểu sao lại tin tưởng sẽ có một giải pháp mới?
Những tin tức đủ loại như vậy chỉ làm cho người dân trong đó có tôi thêm rối trí. Tôi đang đứng suy nghĩ như vậy thì nghe tiếng của Mẹ tôi gọi. Bên dưới nhà ngay sau khi nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên radio thì Mẹ tôi bảo đóng ngay cửa hàng bán quần áo trẻ em lại, khóa cửa sắt bên trong, rồi kéo tấm màn che kín hết và kêu tất cả rút lên lầu.
Bên ngoài đường, như là đã chuẩn bị từ trước ở vùng ven thủ đô, cho nên chỉ khoảng một tiếng đồng hồ sau là tôi nghe thấy tiếng những âm thanh động cơ nặng nề của những bánh xích xe tăng T-54 lăn rầm rầm trên đường nhựa từ phía Ngã Ba Ông Tạ, chạy trên đường qua trước mặt nhà Mẹ tôi, hướng về phía cầu Trương Minh Giảng.
Tôi nhìn qua cánh cửa sổ hé mở để thấy hình ảnh đau thương đầu tiên nhất về ngày mà Sài Gòn sụp đổ trong mắt tôi là một đoàn xe tăng T-54 đang lăn bánh vào thành phố.
Những người lính Bắc Việt mở nắp xe tăng và chui ra đứng lên nhìn thành phố một cách ngỡ ngàng. Từng chiếc, từng chiếc một chạy ngang qua trước mặt tôi bên dưới đường như những mũi kim xuyên qua da thịt đâm vào tim.
Trong khi mà đa số dân chúng hai bên đường còn đang sửng sốt chưa hiểu chuyện gì đang xẩy ra, thì một số người chả hiểu sao đã giơ tay vẫy vẫy đoàn xe tăng này – bên cạnh đó những người lính VNCH vẫn đang lầm lũi bước đi một cách đáng thương.
Tôi có cảm tưởng như bầu trời u ám tối xầm hẳn lại vì một sự kiện không bao giờ ai tin là có thể có thật đã vừa xẩy ra: quân Bắc Việt đang tiến chiếm và “tiếp thu” thành phố Sàigòn -thủ đô của Miền Nam và chế độ VNCH vừa sụp đổ sau hai mươi năm anh dũng chống lại quân xâm lược từ phương Bắc.
Tôi theo Mẹ xuống nhà dưới để chuẩn bị cùng gia đình ăn bữa cơm trưa và cố gắng lùa bát cơm nhưng không thể nuốt nổi.
Trên radio chợt có những giọng nói rất lạ của vài xướng ngôn viên mới và trong những bản nhạc được phát đi, người ta nghe thấy bản “Nối Vòng Tay lớn” của nhạc sĩ họ Trịnh.
Tôi với tay tắt cái radio đi vì chả có gì cần phải nghe nữa.
Tôi nhớ lại buổi sáng ngày hôm đó, ngày mà chúng ta mất Sàigòn.
Không hiểu sao tôi ngủ dậy rất sớm sau một đêm thao thức và trằn trọc vì cái quyết định ở lại không ra đi một mình.
Tôi lấy chiếc xe Renault 4 CV chạy về phía Tòa Đại Sứ Mỹ xem tình hình ra sao trong khi cả nhà trừ Mẹ tôi, là còn đang say ngủ.
Trời mới vừa hừng sáng và không khí còn hơi mát của sương đêm. Sàigòn dễ thương là chỗ đó, dù ban ngày có nóng mấy đi chăng nữa nhưng khi màn đêm buông xuống là không khí dịu đi ngay.
Phố phường dọc theo con đường Trương Minh Giảng còn vắng người, tôi vừa lái xe ra khỏi nhà một lát chưa tới khu chợ nữa thì thấy một dáng người thất thểu đi bên đường như không hồn. Tôi nhận ra anh Điện, anh bạn đồng nghiệp của tôi và được Tòa Đại Sứ Mỹ biệt phái qua Tổng Nha Cảnh Sát. Tôi mừng quá vội dừng xe lại, nhẩy xuống bắt tay anh hỏi thăm thì chỉ nhìn thấy một khuôn mặt u buồn, anh không nói một lời nào, cái siết tay tôi thật chặt thay cho lời nói rồi lại đi bộ dọc theo con đường hình như đang suy nghĩ gì lung lắm. Tôi đứng nhìn theo anh một lát rồi lên xe đề máy và chạy chầm chậm suốt cho tới cuối con đường Trương Minh Giảng, gập ngã ba thì rẽ trái vào Trần Quí Cáp để hướng về phía con đường Thống Nhất.
Trong khi lái xe tôi vẫn suy nghĩ về anh Điện và dự định chiều nay sẽ đến thăm anh nhưng tôi không ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi gập anh bởi ngay sau khi anh nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng thì anh uống thuốc tự tử.
Anh sinh trưởng ở Huế, là một người rất hiền lành, một công chức cần mẫn, gia đình chỉ có hai vợ chồng và không con cái.
Con đường Trần Quí Cáp sáng hôm ấy vẫn đẹp và rợp bóng mát với hai hàng cây cao bên đường như mọi ngày nhưng tôi có cảm giác thật lạc lõng và thật cô độc.
Thiên hạ hình như còn đang chìm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng mới thấy một hai chiếc xe gắn máy chạy vụt qua rồi mất hút.
Những chiếc lá theo từng cơn gió sớm mai bay là là nghiêng cánh  trước mặt kính xe của tôi rồi rơi xuống mặt đường nhựa và nằm im trên đó. Cuộc đời tôi cũng sẽ rơi rụng như chiếc lá khô này chăng?
Tôi lái xe vào phía trước của tòa đại sứ Mỹ và không thể không kinh ngạc khi nhìn thấy một dinh thự hoàn toàn trống rỗng, cánh cổng trước mở toang ra, với các mảnh kính vỡ bay ra tới tận ngoài đường.
Vòng xe lại phía sau là đường Hồng Thập Tự thì quang cảnh còn tang thương hơn. Một tòa đại sứ hôm nào còn nhộn nhịp, còn là đầu não của mọi kế hoạch tinh vi, thì bây giờ là một căn nhà hoang phế, các cửa sổ bị đập nát và khu cỏ xanh và đường nhựa phía sau này đầy các mảnh vụn của cửa kính vỡ, tôi phải lái xe ra xa để tránh các mảnh vỡ đó.
Mới tối hôm qua khi tôi đến đây thì còn đông nghẹt những người là người chen chúc nhau để tìm đường di tản. Trên bức tường kia là các TQLC Mỹ hườm súng và cổng vào thì đã đóng chặt.
Bây giờ hai cánh cửa mở toang, trên tường hoang lạnh, trong sân chỉ thấy vài bóng người, và trên nóc tòa đại sứ, hôm qua các trực thăng còn nườm nượp bay đi về để chở người di tản ra Đệ Thất Hạm Đội bây giờ cũng chẳng còn ai. Tôi chỉ nhìn thấy một bóng trắng rất nhỏ bốn chân đang chạy từ trên nóc xuống, có lẽ là con mèo đang đi tìm thức ăn.
Tôi đậu xe lại bên hàng cây, bước xuống cầm lên một mảnh vụn kính văng ra và nghĩ rằng phải có người dùng chất nổ để phá các két sắt trong đó để tìm tiền hay đô la còn sót lại thì các mảnh mới có thể văng xa đến như vậy.
Có điều tôi không ngờ rằng chẳng bao lâu sau thì cuộc đời hàng triệu người dân miền Nam trong đó có tôi cũng vỡ vụn ra không khác gì mảnh kính vỡ tan kia.
Tôi vòng xe về nhà nghỉ một chút đến chiều ngày 30 thì ghé thăm anh Điện, nhà anh rất gần nhà Mẹ tôi, ngay trong con hẻm bên cạnh ngôi chợ Trương Minh Giảng.
Khi tôi bước vào căn nhà thì không khí hoàn toàn vắng lặng và tôi hơi bị khựng lại vì cửa thì mở toang ra nhưng trong nhà không có ai ngoài một người bà con.
Tôi được biết là anh đã quyên sinh và chị đang ở trong nhà thương với anh để lo việc tẩm liệm.
Tôi bước ra khỏi nhà anh mà đầu óc còn chưa tỉnh hẳn.
Tôi để xe đó và đi bộ vào trong chợ, tôi có ý tìm một nhân viên của tôi cùng làm việc trong Đoàn Liên Lạc HK là một người gốc Chàm rất thành thật và dễ mến tên Carim.
Đang loay hoay nhớ lại lối vào nhà anh vì lối đi quanh co phía sau chợ thì tôi chợt thấy anh vác chiếc xe đạp ra định đi đâu. Gập tôi anh mừng qua dắt chiếc xe đạp trở lại, dựng nó tựa lên vách phòng khách trong nhà rồi chạy lại nắm tay tôi mời vào nhà.
Căn nhà anh ở là căn nhà sàn vách ván, bên dưới là con sông chẩy lượn lờ vòng quanh dưới chân cầu Trương Minh Giảng.
Căn phòng khách đơn sơ nhưng tối tù mù và trên tường có một bàn thờ che vải đỏ có lẽ là nơi anh thờ bùa chú gì đó.
Anh là một người với một cuộc đời khá đặc biệt chuyên giúp người, mà tôi nghe nhiều nhưng khi quen anh mới biết được.
Anh là một ông thầy người Chàm cao tay về bùa yếm.
Căn nhà sàn này cũng là một tặng phẩm của một bà trên chợ Bến Thành biếu cho anh vì anh đã cứu mạng cho con gái của bà.
Anh kể tôi nghe rằng con gái của bà này khi xuống Cần Thơ ăn học thì có một người thương yêu cô nhưng cô không chịu. Chàng trai kia bèn nhờ thầy bùa gì đó dưới Cần Thơ “thư yếm” vào phong bì gửi cho cô. Lúc mở phong bì ra là cô bắt đầu thấy như có ngọn lửa đang nung đốt ruột gan mình chịu không nổi, cô la hét và xé cả quần áo ra như người điên.
Đưa đến bệnh viện cấp cứu và bao nhiêu là bác sĩ cũng bó tay vì không tìm ra bệnh gì hết. Bà mẹ bèn đem cô về Sài Gòn để tìm thầy chữa trị, và may mắn có người giới thiệu với Carim.
Anh nói với tôi anh biết cái người đã yếm bùa hại cô này nhưng anh cao tay hơn nên chữa được. Sau khi con gái bà đã được giải trừ bệnh tật xong thì bà đã mua tặng cho anh ngôi nhà sàn này.
Lúc anh Carim mới vào làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ và được đưa về Đoàn Liên Lạc HK để yểm trợ cho Phủ Đặc Ủy TƯTB thì anh nói tiếng Việt chưa sõi mà tiếng Anh thì cũng yếu nữa nên tôi thường giúp anh trong các khi cần phiên dịch hay diễn đạt bởi thế anh thân tình với tôi hơn những nhân viên khác của Đoàn.
Tôi tình cờ đến thăm và thấy anh rất vui mừng. Anh có hỏi tôi về tình hình và tại sao Tòa Đại Sứ HK lại không giữ lời hứa và không đến đón chúng tôi như đã cam kết trong buổi họp cuối cùng ngày 27-4-1975?
Tôi nói tôi không biết và lược sơ tình hình cho anh hiểu.
Riêng tôi có một câu hỏi với anh là với nghề nghiệp thầy pháp, tạm gọi anh như vậy đi, không biết anh có thể tìm được điều gì về tâm linh ngõ hầu soi sáng thêm cho tình hình đen tối này hay không.
Anh nhìn tôi chầm chậm lắc đầu một cách bi quan.
Anh cho tôi biết là một số anh chị em trong Đoàn còn lại tại Sàigòn cũng rất là hoang mang, không biết tính sao. Tôi nhờ anh nhắn lại với họ là mọi người nên lo cho gia đình mình là tốt nhất rồi xem tình hình ra sao sẽ tính.
Tôi ngồi uống với anh chung nước trà và siết tay anh rồi ra về.
Đó là lần tôi gập anh ngay sau lệnh đầu hàng và không còn dịp nào gập lại nữa nhưng lúc nào tôi cũng mến anh, một con người thật thà ngay thẳng và hay giúp người.
Tôi chạy xe đến nhà anh Sang là một cấp chỉ huy trong Đoàn Liên Lạc HK thì nghe tiếng khóc sụt sùi từ trong nhà vọng ra. Tôi chỉ gập một cô bé giúp việc, cô nói rằng cả hai vợ chồng anh đều đã ra đi từ hồi nào cô không hay nữa. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng tất cả đều đã tan tác như loài ong vỡ tổ và mạnh ai người nấy đi tìm đường thoát ra khỏi miền Nam trước khi quá trễ.
Vì quá tin vào lời hứa và cam kết của các cố vấn Mỹ trong buổi họp ngày 27-4 mà phút chót tôi và rất nhiều người đã bị kẹt lại.
Mấy ngày sau tôi mới biết là tất cả cố vấn Mỹ đã có lệnh rút hết vào bên trong Tòa Đại Sứ sáng ngày 29-4 và ngay buổi chiều hôm đó thì Tòa Đại Sứ đã ra lệnh đóng kín cửa, cho lính TQLC Mỹ canh gác trên bức tường thành chung quanh và không còn ai ra vào được nữa.
Các bạn đồng nghiệp của tôi và chính tôi nữa khi bước chân vào các trại “tập trung cải tạo” của Cộng Sản, đã phải trả một cái giá rất đắt với bao nhiêu năm tù đầy cho niềm tin vào lời hứa sẽ bốc đi bằng trực thăng của người Mỹ.
Bởi lẽ các cố vấn Mỹ chỉ lo cho những người họ quen biết, hay chỉ đưa đi một số người quan chức bên phía VNCH đã được chỉ định mà thôi trong đó có Trung Tá HDC, một Trưởng Ban của Phủ Đặc Ủy TƯTB – nơi Đoàn Liên Lạc HK tôi vẫn làm việc.
Vào đầu tháng 5-1975, tôi quyết định đi một vòng để thăm bạn bè và có dịp gập gỡ một số bạn đồng nghiệp còn ở lại trong đó có một chị người Trung Hoa nói tiếng Việt rất ít nên chúng tôi thường phải đối thoại bằng Anh Ngữ. Câu chuyện của chị kể đã khẳng định điều nhận định của tôi là đúng.
Chị A.L cho tôi biết là người cố vấn Mỹ đang thuê nhà của chị nói rằng Tòa Đại Sứ vừa triệu tập khẩn cấp các cố vấn Mỹ đang ở trong thành phố hay đang làm việc tại các Nhà An Toàn phải vào trong Sứ Quán ngay lập tức nội sáng ngày 29-4.
Tay cố vấn này có hỏi chị muốn đi hay không, chị A.L trả lời là chị đang chờ cố vấn của Đoàn Liên Lạc HK thông báo xem sẽ tập trung ở đâu. Người Mỹ này nói là không còn kịp nữa đâu mà chờ đợi.
Nhờ có tay cố vấn ấy mà cả hai mẹ con chị mới vào được trong Tòa Đại Sứ  yên ổn ngay sáng ngày 29-4.
Tôi thắc mắc là tại sao hai mẹ con chị đã vào bên trong yên ổn rồi mà còn ở lại đây Sàigòn giờ này? Chị nói đúng là con người ta không ai học được chữ ngờ và quả là con người ta đi đứng đều có số mạng.
Bởi tối hôm 29-4, ai có mặt trong Tóa Đại Sứ cũng đều biết rằng đó là buổi tối cuối cùng vì ngày mai trực thăng sẽ không còn vào đón người di tản nữa từ trên nóc của sứ quán.
Vì lẽ đó mà thiên hạ chen nhau một cách hỗn loạn, leo lên từng bậc thang một để lên trên sân thượng nơi trực thăng đang chờ –lý do là mỗi chuyến trực thăng chỉ đón một số người nhất định có tên trên manifest mà thôi.
Chị A.L dẫn mẹ già nên chậm hơn mọi người. Khi chị lên đến nóc tòa nhà và chuẩn bị chui vào chiếc trực thăng đã được chỉ định thì mới hốt hoảng không thấy mẹ mình đâu. Hóa ra bà cụ đã vừa mới đứng phía sau chị bên cạnh cầu thang thì đã bị người ta xô đẩy tuốt về phía sau từ hồi nào. Chị vội quay xuống dẫn cụ lên lại tới nơi thì chiếc trực thăng đó không thể chờ được và đã cất cánh.
Chị kiên nhẫn đứng chờ các chuyến sau nhưng vẫn bị từ chối vì không còn chỗ, và cứ thế chờ suốt đêm đến sáng rồi đành ra về khi toán TQLC cuối cùng rút lui – không còn một dấu vết gì nữa của người Mỹ đã hiện diện ở đây ngày hôm qua.
Những người không đi được còn lại ở bên trong và một số ở bên ngoài quá bất mãn đã phá tung cánh cửa và ùa vào phá hết các đồ đạc tủ bàn ghế bên trong. Một số người nữa từ các nơi ngoài đường thấy cổng mở cũng túa vào. Họ đập nát các tủ sắt lấy đi những gì còn có thể lấy được. Đó là vì sao mà các mảnh vụn của cửa kính văng xa ra tới tận ngoài đường.
Ngày 30-4, ngày mất miền Nam thì cái dinh thự to lớn và bề thế của Tòa Đại Sứ Mỹ trên đường Thống Nhất cũng chỉ còn là một cái xác nhà tan hoang.
Tôi nhìn lại tòa nhà đó một lần chót, không thể ai tin được rằng cái dinh thự ấy mới đây còn là nơi yểm trợ cho công cuộc chống Cộng của chế độ VNCH của miền Nam Tự Do, nay đứng chơ vơ xác xơ như thân cây ruỗng mục.
Trên đường phố chung quanh Tòa Đại Sứ tôi nhìn thấy bao cảnh dở khóc dở cười của những người hôi của. Họ chạy xe gắn máy các loại và thòng dây kéo theo các chiến lợi phẩm như những chiếc ghế xoay rồi cột trên đó thêm cái máy lạnh, cái quạt máy, hay cái máy đánh chữ.
Xe của họ phải chạy chầm chậm vì nhanh một chút nữa là chiếc ghế xoay kia sẽ đổ ụp xuống đường.
Tôi lái xe ngược trở về nhà Mẹ tôi để thu xếp đưa gia đình về lại căn nhà tôi đang ở trong Phú Lâm vùng ngoại ô.
Tất cả đã hết thật rồi và hy vọng cũng tan tành như mây khói.
Những người bạn Mỹ ngày nào vẫn cùng nhau sát cánh bao nhiêu năm giờ đây đã rời xa nghìn trùng không còn một dấu vết.
Các bạn đồng nghiệp như tôi hay toàn bộ bên Phủ Đặc Ủy hay các Phủ Bộ khác của chế độ VNCH cũng đang phải đối diện với một ngày mai không thấy gì là sáng sủa trước mặt một kẻ thù cực kỳ hiểm độc và tàn ác không lường.
Thôi cứ về nhà chờ rồi sẽ hay, cái gì đến sẽ phải đến.
Có khác chăng, trước kia tôi chờ trong niềm vui và hạnh phúc là người Mỹ sẽ đón đi di tản cùng với gia đình, còn bây giờ là chờ người của họ sẽ đến tìm bắt mình ngay tại nhà.
Thành phố Sài Gòn không còn nữa, tất cả những ngày tháng êm đềm mang đầy kỷ niệm trên mọi ngả đường thân yêu trong cái thành phố mang tên Hòn Ngọc Viễn Đông đó không còn nữa.
Lịch sử vừa sang qua một trang mới đầy sắt máu, hãi hùng, bi thương; và bên cạnh đó là một nền văn minh huy hoàng bắt đầu bị kẻ chiến thắng hủy diệt ngay trong thủ đô thân yêu mang tên Sàigòn.
(Còn tiếp)
(nguồn: phamgiadai.blogspot.de )