MẮT KẼM GAI – Phần 1 (Chu Sa Lan)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail
Lời giới thiệu:

Đây là một câu chuyện tình đẹp, lãng mạn, buồn, trong cuộc chiến VN trước 1975. Không gian, nơi tận cùng cuả miền đất nước, Mũi Cà Mâu, vùng Năm Căn, cửa Bảy Hạp, Đầm Dơi… Để hình dung, hồi tưởng lại những điạ danh này. Chúng ta hãy cùng nhau khởi nguồn từ con sông Sàigòn. Con sông Sàigòn, dẫn tới:

“Nhà Bè nước chẩy chia hai.
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”.

Bắt đi từ Thương cảng cầu tầu số 5, đối diện với Khánh Hội, các chiến hạm thường theo con sông này ra tới biển bằng hai ngã sông Lòng Tào hay Soài Rạp, tuỳ theo vùng công tác cuả mình. Cửa Lòng Tào gần phiá Bắc, thuận tiện cho đường ra miền Trung, cưả Soài Rạp gần hơn cho việc xuôi Nam, về hướng Côn Sơn, Cà Mâu, Vịnh Thái Lan ra Phú Quốc. Ngã Lòng Tào, nhiều khúc sông hẹp, lòng sông khá sâu, đa số các thương thuyền hay chiến hạm loại lớn sử dụng ngã này để ra vào Thương cảng, Quân cảng Sàigòn. Ngả Soài Rạp rộng nhưng lòng sông không được sâu cho lắm, ngả này tiếp giáp với khu Rừng Sát. Ra gần tới biển, khu Vàm Láng, có đồn Bộ binh thuộc chi khu Lý Nhơn. Nếu có dịp ghé vào đây, ăn nhậu cá khô sặt, tôm khô củ kiệu hay cua bể hấp bia… Ôi thôi, nhậu sẽ luôn là “tới bến” và thường luôn quên cả đường về.

Bây giờ quý Anh Chị hãy như đang cùng chiến hạm ra khỏi cưả Soài Rạp xuôi Nam. Điạ danh nổi tiếng sẽ gặp là Côn Sơn, sẽ không phải

Côn Sơn có suối nước trong.
Ta nghe nước chẩy như cung đàn trầm

như Côn Sơn thơ mộng cuả Chu Mạnh Trinh, mà là Côn đảo, nơi giam giữ các phạm nhân từ thời Pháp thuộc.

Theo sau đó là hòn Poulo Obi, nơi đồn trú cuả Duyên Đoàn 41, căn cứ Hải quân đầu tiên thuộc lãnh hải cuả Vùng Bốn Duyên Hải. Thêm một quãng biển vài chục hải lý là chiến hạm chuẩn bị vào cửa Bồ Đề. Con đường thủy lộ độc đạo để tiếp tế cho khu căn cứ quân sự Hải Quân Năm Căn.

Cưả Bồ Đề từ ngoài khơi, trên màn ảnh radar ngó tưởng rộng rãi, chiến hạm dễ vận chuyển ra vào. Nhưng thực tế, phù sa đã bồi ra rất xa ngoài khơi hai bên, nên lòng cưả còn lại khá hẹp, phải làm points, định vị trí chiến hạm liên tục, kẻo không sẽ dễ bị mắc cạn.
Lòng sông Bồ Đề khá sâu, mỗi lần ra vào, các loại chiến hạm (LSM, Hải Vận Hạm & LST, Dương Vận Hạm) chuyển vận lương thực đạn dược, nhiên liệu tiếp tế, luôn phải có đoàn giang đỉnh các Giang đoàn Ngăn Chặn hay Thuỷ bộ hộ tống.

Năm Căn, thuộc U Minh Hạ, vùng kinh lạch chằng chịt đường thuỷ dẫn tới khắp nơi, nào Đầm Dơi, Thới Bình, Cà Mâu… Vùng cuả các khu rừng cây Đước để làm than Đước nổi tiếng cháy lâu. Dân đây thường sống nghề đi biển hay làm than.

Năm Căn, căn cứ Hải Quân mang tên vị Thánh tổ Trần Hưng Đạo, nơi đồn trú Bộ Tư Lệnh Vùng 5 Duyên Hải, Hải Đội 5 Duyên Phòng, thêm vài ba đơn vị Giang Đoàn tăng phái. Nơi đây tận cùng đất nước, cũng là nỗi buồn tận cùng cuả con người khi phải thuyên chuyển về đây. Ở đây, ngoài công việc, chẳng có gì giải trí.

Ấp Hàm Rồng bên cạnh, nơi trú ngụ vài ba chục nóc gia, một ít cư dân ra vào làm việc dịch vụ cho căn cứ. Trên hương lộ, có được một quán nhỏ vưà cà phê vưà ăn nhậu. Ấp có ngôi trường mẫu giáo, tiểu học nhỏ xiú, một hai cô giáo thay phiên về dậy, vài ba tháng lại đổi đi.

Sông Bồ Đề, xuyên ngang Năm Căn, dẫn ra cửa sông Bẩy Hạp chảy vào Vịnh Thái Lan. Như vậy, Bồ Đề hợp cùng Bẩy Hạp nối biển Nam Hải với Vịnh Thái Lan. Từ cửa Bảy Hạp, thêm vài giờ đồng hồ di chuyển, chiến hạm sẽ cặp cầu An Thới, nơi có quận lỵ Dương Đông, Phú Quốc….

Lan man chuyện biển trời sông nước, chuyện một thời qua khá lâu, đã lạc đề. Bây giờ, quay lại “Mắt kẽm gai” cuả Chu Sa Lan.

Nhân vật chính, Khôi một Trung Úy Hải quân, đơn vị phục vụ Giang Đoàn Thủy Bộ.

Lực lượng đặc nhiệm Thuỷ Bộ 211, do Mỹ chuyển giao tháng 7/1969. Vị tư lệnh đầu tiên Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, hiện định cư tại miền Đông Hoa Kỳ.

Thời gian này, Mỹ đã bắt đầu tính chuyện rút quân (có lẽ từ các mật đàm đơn phương với Việt Cộng tại hội nghị Paris, sau biến cố Tết Mậu Thân 1968).

Các lực lượng đặc nhiệm Hải Quân VNCH đua nhau hình thành, để lo tiếp quản các đơn vị từ phiá Hải Quân Hoa Kỳ chuyển giao, nào là lực lượng đặc nhiệm Tuần thám 212, lực lượng đặc nhiệm Duyên phòng 213, v.v…

Trong “Mắt kẽm gai”, loại giang đỉnh Trung uý Khôi chỉ huy để tăng phái, gồm 2 loại Alpha và Tango.

Alpha tốc độ nhanh, nhỏ nhắn, thường sử dụng mở đường cùng lo công tác rà mìn. Tango để chuyên chở quân, thành hai bên giang đỉnh là những song sắt dàn thưa, để chống đầu đạn B40, khi chạm sẽ nổ ngay, mảnh văng ra ngoài, không nguy hiểm cho nhân mạng phiá trong. Phiá trên, nóc là 1 vỉ sắt mặt bằng, trực thăng có thể đáp được.
Ngoài Alpha, Tango, giang đoàn Thuỷ bộ còn có Monitor, loại giang đỉnh chỉ huy. Đặc biệt mỗi giang đoàn còn có một giang đỉnh Zippo với súng phun lửa rất mạnh và tầm phun rất xa.

Đặc nhiệm Thuỷ Bộ ngày đó (1969), cùng các chiến đoàn A & B Thuỷ Quân Lục Chiến đã khai thông Thuỷ lộ từ Xẻo Rô, bắt đầu Kinh Cán Gáo, chạy suốt Kinh thứ 1 cho đến hết Kinh 12, tới dòng Trèm Trẹm, bắt sang Thới Bình để gặp Cà Mâu. Khai thông đến đâu, công tác bình định, xây dựng đồn bót theo sau tới đó. Đã có bao xương máu đổ ra ngày ấy, để bình định những vùng xôi đậu này!!!

Các giang đỉnh nếu xuất phát từ Cần Thơ, sẽ xuyên qua Kinh Xà No, ngang Vị Thanh Hoả Lựu (tiểu khu Chương Thiện), ra sông Cái Lớn để tới Xẻo Rô (chi khu Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Hoặc nếu từ Long Xuyên, các giang đỉnh sẽ theo thủy lộ Kinh Cái Sắn, để tới điểm hẹn.
Trong “Mắt kẽm gai”, Chu Sa Lan luôn nhắc tới hoả lực lợi hại cuả các giang đỉnh Thuỷ Bộ, đây là một sự kiện trung thực. Những đoạn tác giả viết về cách thức các giang đỉnh tuần tiễu, cách bố trí phòng thủ rất ư là chuyên môn Hải Quân.

Chuyện tình yêu, cái hư trong cái thực, nhưng người đọc có thể sẽ dễ tin vào những hư cấu do tác giả tạo dựng, vì hư thực đôi khi đã được khéo léo trộn lẫn cùng nhau.

Với lối hành văn khá mạch lạc, lôi cuốn, Chu Sa Lan đã khiến người đọc say mê theo dõi chuyên tình ly kỳ, nóng bỏng cuả hai người trẻ say đắm yêu nhau trong cuộc chiến.

Bây giờ đã đủ để dành phần còn lại cho người đọc.

Dịp này, cũng cám ơn anh Nguyễn Phương đã giới thiệu “Mắt kẽm gai”. Nhờ đó, đã gợi cho người viết hồi tưởng phần nào về những vùng biển trời sông nước quê hương. Cùng để nhớ về những câu chuyện một thời bấy lâu nay tưởng như đã chìm vào lãng quên, nay bỗng chốc hiện về.
Tuy nhiên, trí nhớ cũng đã mỏi mòn cùng tháng năm, sự kiện ghi lại đôi khi có sai sót, mong được cảm thông.

Đọc “Mắt kẽm gai” để hồi tưởng quá khứ, nhớ lại các điạ danh, nơi tận cùng đất nước. Đọc để thương cho những thân phân con người rất tầm thường bé nhỏ, nhưng đã luôn phải can trường, chịu đựng hy sinh thiệt thòi trong chinh chiến. Nghĩ cho cùng chẳng có ai “luận Anh Hùng do Thắng Bại”, chẳng qua tất cả chỉ vì do “gặp Thời Thế thế Thời phải Thế”.

Vẫn còn lại đây trong tâm tưởng một thời để tưởng nhớ, một thời để vẫn còn luôn kiêu hãnh.

TNT.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'TRỢ CHI ĐÌNH - CHIẾN ASPB( Assaalt ssa olt Sapport Patrol Boat)'
Không có mô tả ảnh.
MẮT KẼM GAI.
Chu Sa Lan

Phần 1.

1.
Mười giờ sáng. Trời xám xịt. Dòng sông Cửa Lớn đục phù sa. Nước cuồn cuộn chảy. Con sông ngắn nhưng khá rộng này đổ ra biển bằng hai cửa; phía bên Đông Hải là cửa Bồ Đề còn bên Vịnh Thái Lan là Cửa Lớn với địa danh lạ hoắc. Mũi Ông Trang.

Hai chiếc Alpha và một chiếc Tango lừ đừ chạy ngược dòng nước. Đứng sau lái tàu, Khôi nhìn căn cứ Năm Căn ở đằng sau lưng của mình. Những dãy nhà tiền chế, lô cốt cao và ăng ten trời nhô lên giữa vùng cây xanh. Năm Căn. Tên nghe thật lạ. Nó là một quận của tỉnh Cà Mau, một thứ quận không ra quận, lèo tèo mấy chục căn nhà. Dân cư ngụ có thể đếm trên đầu ngón tay và chân. Cái quận này lính nhiều hơn dân. Lính Mỹ. Lính Việt. Sống chung đụng với nhau trong căn cứ có năm căn nhà riêng biệt. Bốn căn bốn góc cho lính Mỹ, biệt động quân, lính của sư đoàn 21 bộ binh và hải quân. Căn chính giữa là nhà bếp. Căn cứ nằm bên dòng sông Cửa Lớn, giữa một vùng sình lầy chỉ có cây đước, cây tràm và những cây gì không ai biết tên.

Ba chiến đỉnh chạy ngang qua phố Năm Cô. Lính gọi là Năm Cô vì chỉ ở đây mới có bóng dáng của đàn bà, dù chỉ là đàn bà mặc quần đen, áo bà ba và đi chân đất. Dân ở đây ít có người mang giày. Chỉ có lính mới mang giày. Giày như là thứ xa xỉ phẩm của dân giống như tivi hay điện. Toàn phố của quận Năm Căn chỉ có một cái máy phát điện nhỏ và chỉ chạy đúng giờ giấc nhất định là bảy giờ tối tới chín giờ đêm. Đó là giờ cái máy truyền hình nhỏ xíu được mở lên cho người ta xem tin tức, nghe tân nhạc hoặc cải lương. Tin tức ít có người xem hơn là cải lương. Người dân cùng đinh nghèo mạt rệp ở cái xứ khỉ ho cò gáy này ít chú tâm tới tin tức ở Sài Gòn, một nơi mà suốt đời họ không bao giờ đi tới. Có lần đứng xem tin tức Khôi bị bà già hỏi một câu:

– Ông Thiệu là ai vậy cậu?

– Ổng là tổng thống…

– Tổng thống thời ổng mần cái chi vậy cậu?

Khôi cười cười. Câu hỏi này xin để dành cho mấy người lính chiến tranh chính trị trả lời. Khôi nhớ lại lần hành quân để giải tỏa quận Đầm Dơi, một đơn vị hành chánh có tên trên giấy tờ của chính phủ nhưng thực ra nằm trong khu “giải phóng” của Việt Cộng. Theo những người lính biệt động quân lên bờ Khôi vào nhà một ông già. Điều khiến cho anh ngạc nhiên lẫn buồn cười là trên bàn thờ có nhang có khói và có hình hai người. Đó là hình của Hồ Chí Minh và Nguyễn Văn Thiệu.
Hỏi tại sao ông chưng hình kỳ cục vậy. Ổng trả lời là nếu quốc gia vào nhà thời ổng chưng hình ông Thiệu. Nếu lính quốc gia đi Việt Cộng về thời ổng lại đem hình Hồ Chí Minh lên. Đôi khi ổng cũng chưng hình hai người lên cùng một lúc. Có lẽ ổng chưng lên để vái hai người chết sớm cho ổng đỡ khổ. Khôi hỏi ổng một câu có vẻ hơi chính trị một chút.

– Như vậy ông theo ai?

– Tôi có biết ông Minh hay ông Thiệu đâu mà bảo tôi theo. Ai cũng được miễn là tôi được sống yên cơm ngày hai bữa…

Giản dị lắm. Đừng nói tới dân chủ làm gì trong lúc bụng đói. Đừng nói tự do khi ông già phải ngủ dưới hầm núp mỗi đêm vì sợ bị máy bay bỏ bom, hoặc mấy anh du kích về bắt đi làm nghĩa vụ nhân dân, bắt đi đào hầm hố, bắt treo hình bác Hồ trong nhà.
Hình minh họa: Trợ chiến đỉnh Alpha (ASPB) và quân vận đỉnh Tango

Tàu bỏ sông Cửa Lớn để đi vào Kinh Ngang, con kinh nối liền sông Bảy Hạp và sông Cửa Lớn. Con kinh hẹp này là thủy lộ nối liền quận Năm Căn với Cà Mau và thế giới bên ngoài. Cũng vì thế mà nó trở thành con kinh chết. Tàu hải quân bị phục kích, bị bắn sẻ đều đều mỗi khi đi qua đây. Không cần đợi lệnh thủy thủ đoàn tự động vào nhiệm sở tác chiến. Súng trên tàu chĩa ra hai bên sẵn sàng khai hỏa. Địch có thể tấn công bất cứ lúc nào và bất cứ hình thức nào. Bắn sẻ bằng súng bá đỏ hay AK. Bắn bằng B40 hoặc 57 ly không giựt. Mìn. Thứ vũ khí giết người độc địa và thầm lặng.

Đội nón sắt, mặc áo giáp Khôi dùng ống dòm quan sát trong bờ với hy vọng tìm thấy một dấu hiệu khả nghi. Mọi thứ đều bình thường. Địch khôn ngoan núp dưới hầm hố chờ đợi. Ai cũng nói đi hải quân sướng. Điều này Khôi không phủ nhận. Ai cũng bảo đi hải quân ít chết. Điều này Khôi không chối cải. Tuy nhiên có một điều mà người ta không biết và Khôi không thích là đi lính hải quân ở các giang đoàn tác chiến như xung phong, thủy bộ, ngăn chặn hay tuần thám là mình đưa lưng cho Việt Cộng bắn. Nó muốn bắn lúc nào là bắn trong khi mình cứ phải lo âu, sợ hãi và chờ đợi để đỡ đạn. Một trái B40 bắn vào chiếc tàu sắt rồi nổ tung thành trăm ngàn mảnh vụn giết người. Đôi khi những mảnh sắt của tàu mới giết chết người lính hải quân hơn là mảnh đạn B40 của Việt Cộng.

Đoàn tàu lầm lì đi hơn nửa con kinh. Không khí lặng trang làm mọi người như ngộp thở. Khôi không biết mình đổ mồ hôi vì sợ hay vì nóng. Có lẽ cả hai thứ. Tiếng súng nổ dồn dập ở đằng trước nơi chiếc Alpha 11 dẫn đầu. Tiếng đạn đại liên 12 ly 7 xói vào không khí và rừng cây thành thứ âm thanh kinh dị.

– Alpha 11 đây Đan Khôi. Nghe rõ trả lời.

– 11 tôi nghe Đan Khôi.

– Có chuyện gì vậy?

– Tụi nó chơi một trái 40 sau đít của tôi.

Giọng nói bình tỉnh pha chút tếu của Sinh, thuyền trưởng Alpha 11 làm Khôi an tâm.

– Có ai bị gì không?

Khôi nghe tiếng Sinh cười vui vẻ vang trong máy 46.

– Mấy thằng em của tôi vô sự. Chỉ có bể nồi thịt kho thôi.

Lắc đầu cười Khôi cởi nón sắt khi thấy chiếc Alpha 11 bắt đầu quẹo trái vào sông Bảy Hạp. Tối hôm qua anh nhận lệnh biệt phái cho một ngôi đồn của Địa Phương Quân thuộc chi khu Cái Nước nằm trên dòng sông Bảy Hạp. Tuy phòng hành quân nói chỉ biệt phái thời gian ngắn nhưng nhìn số lượng dầu cặn, đạn dược và lương thực anh biết thời gian ngắn sẽ thành ra thời gian dài có thể năm ba tháng. Dầu cặn được lãnh tối đa. Lương thực cũng tối đa. Năm thùng ration C dành cho trường hợp tối cần thiết. Mười thùng gạo sấy và thịt ba lát đủ thứ. Đạn thời khỏi nói. 20 ly. M60. Lựu đạn. M79 thường. M79 dây. 20 thùng đạn M16. Năm chục thùng 12 ly 7. Không thiếu cái gì. Một chiếc tàu được lãnh cấp số đạn dược nhiều hơn một đại đội bộ binh. Không lãnh nhiều cũng uổng bởi vì để lâu mấy thằng mũi lõ sẽ đổ xuống sông.

Khúc sông Bảy Hạp từ Kinh Ngang ra tới cửa biển là một khu vực ít có dân cư ngụ không phải vì mất an ninh mà vì vùng nước mặn không trồng trọt được gì hết. Tàu chạy ngang qua một đồn Nghĩa Quân. Người lính ngồi gác giơ tay vẫy vẫy. Nếu không có lá cờ vàng ba sọc đỏ treo trên một lô cốt cao thời Khôi sẽ không nhận ra đó là một chiếc đồn của quốc gia. Lòng sông rộng ra hơn và càng ít có ghe thuyền đi lại. Ba giờ chiều. Đoàn tàu đi tới một xóm nhà lá chừng trăm cái cất dọc theo bờ sông. Cuối xóm nhà lá là một khu đồn bót khá rộng cũng nằm dọc theo bờ sông nhưng thụt sâu vào bên trong chừng hai ba chục thước. Đối diện với ngôi đồn là rạch Năm Căn. Đây là một con rạch lớn nối liền hai con sông Cửa Lớn và Bảy Hạp. Theo như tin tức mà phòng hành quân đã cung cấp Khôi biết chiếc đồn này do một đại đội Địa Phương Quân trú đóng nhằm mục đích kiểm soát hoặc dò xét sự di chuyển và hoạt động của địch ở phần đất thuộc hai quận Năm Căn và Cái Nước.

Khôi ra lệnh cho ba giang đỉnh ủi vào khoảnh đất trống ngay chánh của đồn. Báo cáo về bộ chỉ huy giang đoàn ở Năm Căn xong anh leo lên bờ. Tới trạm canh anh nói với người lính gác về nhiệm vụ của mình đồng thời xin gặp mặt cấp chỉ huy của anh ta. Liếc nhanh ba chiếc tàu đang nổ máy xong quan sát bộ quân phục và cái nón lưỡi trai của người lính hải quân anh ta cười nói một cách vui vẻ và thân thiện.
– Trung úy theo tui.

Không biết cấp bậc của lính hải quân nên anh ta gọi trung sĩ thành trung úy. Cười cười Khôi nghĩ thầm.

– Như thế càng hay. Mình dễ làm việc hơn.

Hai người đi trên con đường đất đen gồ ghề. Kẽm gai giăng mắc khắp nơi. Lon đồ hộp treo lủng lẳng khắp nơi.

– Trung úy coi chừng lựu đạn.

Chỉ vào giây kẻm gai giăng khắp bốn hướng xung quanh đồn anh ta cười tiếp.

– Tụi tui chôn mìn và gài lựu đạn dữ lắm. Cách đây mấy ngày tụi nó mò vào đụng phải mìn và lựu đạn chết tan thây mấy đứa.

– Chắc Việt Cộng về hoài hả anh?

– Trước đó thời ít hơn. Sau cái vụ Mậu Thân và tổng công kích đợt 2 tụi nó tấn công đồn ba lần mà dô hổng nổi.

Người lính dừng lại nơi một lô cốt thật lớn mà Khôi đoán là bộ chỉ huy đại đội. Đứng ngoài cửa lô cốt anh ta nói lớn.

– Ông thầy. Có ông trung úy hải quân muốn gặp Bà Bùi.

Một người lính già bước ra. Gọi là già bởi vì mái tóc muối tiêu và nét nhăn trên mặt nhưng nhìn kỹ ông ta không già vì ánh mắt tinh anh và nụ cười trẻ trung. Ông ta mặc bộ kaki cũ kỹ, nhầu nát và chân mang dép.

– Tôi là thượng sĩ Bang, đại đội phó. Mời trung úy vào.

Khôi bước vào một căn hầm hình vuông mỗi cạnh chừng bốn thước. Một cái bàn được đóng bằng cây lấy ra từ vỏ của thùng đạn. Một chiếc giường nhỏ cũng bằng cây. Ba cái ghế đẩu xiêu vẹo.

– Tôi và ba chiến đỉnh được biệt phái lên yểm trợ cho căn cứ này.

Nhìn ra khoảng trống dùng để ra vào anh cười tiếp.

– Nếu thượng sĩ có cần điều chi tôi sẵn sàng giúp đỡ.

– Cám ơn trung úy. Để tôi trình với Bà Bùi xong bả sẽ nói chuyện với trung úy sau.
Tuy hơi thắc mắc về danh từ “Bà Bùi” mà người lính và ông thượng sĩ nói nhưng Khôi chỉ cười.

– Tôi tên Khôi và tàu của tôi đậu ngoài kia.

Mặc dù có người lính canh dẫn đường nhưng ông thượng sĩ cũng theo đưa chân Khôi tới tận cổng mới quay trở vào. Dừng lại nơi cổng Khôi hỏi người lính canh:

– Tôi thấy có xóm nhà đằng kia. Chắc phải có chợ và quán hàng.

Hiểu ý Khôi, người lính nói.

– Xóm đó có tiệm tạp hóa và cà phê nhưng trung úy và anh em nên coi chừng. Đừng ra đó vào ban đêm.

– Cám ơn anh. Tôi sẽ dặn mấy người lính của tôi.

Về tới tàu Khôi nói cho lính của mình biết về tình hình đồng thời căn dặn Sinh và Tuyên, thuyền phó của mình cho thủy thủ đoàn canh gác cẩn thận về ban đêm cũng như lúc nào cũng phải có người túc trực trên chiến đỉnh.

Ngồi trên mui tàu Khôi nhìn khung cảnh thê lương và ảm đạm của vùng này. Nó hoang vu tới độ không có tên trên bản đồ hành chánh. Xung quanh là rừng tràm hay đước xen lẫn với cỏ cao chạy dài ra tới tận biển. Đây là vùng sình lầy và nước mặn cho nên ít cây cối. Vả lại cây cối cũng không mọc được vì đạn bom của cả hai bên. Không gian thật im vắng và tĩnh mịch dường như không có sinh khí. Ngôi đồn trên kia cũng không thấy bóng người đi lại.

Mặt trời mất dạng sau hàng cây xanh đen. Bóng tối ập xuống xóa nhòa cảnh vật. Chiếc đồn cũng chìm trong bóng đêm thâm u trừ tháp canh hiện mờ mờ. Thỉnh thoảng có ánh đèn loé lên rồi tắt thật nhanh. Vì lý do an ninh nên tàu không được nổ máy ban đêm thành ra không có điện. Lính trên tàu chỉ được phép dùng đèn pin. Người lính gác tàu đi đi lại lại. Tựa lưng vào ụ súng 20 ly Khôi nhìn về hướng bắc. Sài Gòn. Xa quá rồi. Những ngày rong chơi, hẹn hò. Ciné Eden. Ăn khô bò uống nước mía. Cô gái tên Liên giờ chỉ còn là hình bóng chìm sâu trong tâm tưởng cũng như anh đang cố quên đi một cuộc tình đứt đoạn. Dù yêu nhau tha thiết hai đứa cũng phải xa nhau. Anh chưa chịu dừng chân trong lúc Liên muốn có một người chồng sáng vác ô đi tối vác ô về.

Khôi không chịu được đời sống gò bó của một người lính văn phòng. Thế là hai đứa đồng ý chia tay dù biết xa nhau nhưng vẫn nhớ nhau hoài. Trước khi lấy chồng Liên có viết thư mời anh dự đám cưới nhưng khi đến tay anh thời chậm quá rồi. Từ đó anh tránh dây dưa tình cảm dù quen biết rất nhiều người. Có người hỏi sao không lấy vợ. Anh cười đáp chừng nào đất nước hòa bình sẽ lấy vợ cũng chưa muộn. Hoà bình đâu không thấy chỉ thấy chiến tranh càng ngày càng lan rộng. Những cô gái anh quen không chờ đợi được đã đi lấy chồng. Khôi cũng không giận hờn hay phiền trách điều đó. Anh hiểu con gái chỉ có một thời son sắc mà thôi. Họ không thể để tuổi xuân qua, không thể chờ đợi một người còn thích lang thang và mải mê tìm kiếm…

Mặc dù không phải là phiên gác của mình nhưng Khôi cũng đưa starlight scope lên quan sát. Đây là thứ ống dòm cá nhân tối tân của hải quân Mỹ chuyên dùng để quan sát ban đêm. Vào những đêm trăng sáng hoặc có nhiều sao người ta có thể thấy rõ bóng người xa cả cây số. Xóm nhà lá hiện lên. Ngôi đồn của Địa Phương Quân trước mặt. Khu rừng cây sáng rực. Tất cả đều yên tịnh. Tất cả đều ngủ say trừ mấy tên đặc công hay mấy anh du kích địa phương đang rình mò.

9 giờ sáng. Chiếc Alpha 9 ủi vào một bãi trống cách xóm nhà lá chừng hai ba chục thước. Khôi và thủy thủ đoàn lên bờ. Họ có hai tiếng đồng hồ để ăn sáng, đi chợ và thăm dân cho biết sự tình. Lững thững đi trên con đường đất dọc theo bờ sông giây lát Khôi bước vào một quán ăn mà anh biết chắc là của người Tàu. Ở đâu cũng có họ. Ở đâu họ sống cũng được ngay cả những vùng hoang vu hẻo lánh nhất. U Minh Thượng cũng có họ. U Minh Hạ cũng có họ. Năm Căn. Cái Nước. Xẻo Rô. Miệt Thứ cũng có họ. Họ sinh sống bằng nghề mở quán bán cà phê, hủ tiếu mì hay tiệm tạp hóa hoặc trồng trọt.

Người chủ quán đặt bình trà xuống ngay lúc Khôi vừa kéo ghế.

– Nị uống cái chi?

– Xây chừng…

Khôi buông gọn hai tiếng. Một phút sau ly cà phê đen bốc khói được mang ra. Bỏ chút đường anh nhấp ngụm nhỏ. Cà phê không tệ lắm dù là cà phê dợt. Ở cái xứ khỉ ho cò gáy này mà có cà phê uống là nhất rồi. Cà phê dợt của mấy chú ba dù sao cũng còn ngon gấp mấy lần instant coffee của Mỹ. Anh chỉ uống một lần rồi không bao giờ uống nữa. Nó chua chua và nhạt nhẻo không có mùi, không có vị gì hết. Gọi tô mì Khôi đốt điếu thuốc PallMall rồi im lặng nhìn ra con đường đất lồi lõm. Phía bên kia sông là rừng cây không cao lắm. Con sông Bảy Hạp bề ngang chỉ rộng hơn năm chục thước dù từ đây tới cửa biển chỉ xa khoảng hai ba cây số.

Nhâm nhi ly cà phê Khôi chăm chú nhìn một bóng người đang đi tới gần. Đó là một người đàn bà. Người đàn bà này mặc đồ trây di, mang bốt đờ sô và đội mũ lưỡi trai. Điều khiến cho anh chú ý là bên hông của bà ta xệ xuống khẩu Colt 45. Lính đàn bà thời anh không lạ nhưng lính đàn bà mang súng thời anh ít thấy. Huống chi bà lính này lại mang súng xệ bên hông giống như cao bồi. Khi bà lính này tới gần hơn nữa Khôi nhận ra bà ta còn trẻ và tóc dài. Dáng người nhỏ nhắn, thanh thanh cộng thêm khẩu Colt xệ bên hông làm cho bà ta trông ngộ nghỉnh, là lạ và đặc biệt. Thoạt trông bà ta không giống bất cứ người đàn bà nào mà anh đã gặp. Người đàn bà mang súng bước vào quán cà phê. Trông thấy người lính hải quân đang ngồi bà ta hất hàm.

– Lính dưới tàu hả?

Tuy hơi bất mãn về câu hỏi cộc lốc của bà ta nhưng Khôi cũng cười trả lời.

– Thưa bà tôi là lính hải quân đi công tác vùng này…

Trả lời xong Khôi đốt điếu thuốc rồi lơ đãng nhìn ra ngoài đường. Người đàn bà nói chuyện với chủ quán mấy câu rồi cũng bỏ đi.

12 giờ trưa. Chiếc Alpha 9 ủi vào bãi đất trống đối diện với quán cà phê. Thủy thủ đoàn lên bờ đi kiếm con nít bảo tới tàu lãnh quà. Việc này tuy không nằm trong công tác nhưng Khôi lại thích làm nhất. Quà cho trẻ con ở vùng quê này cũng không tốn tiền và chúng cũng không đòi hỏi gì nhiều. Mỗi đứa được một phong kẹo cao su, một thỏi chocolat hay sang hơn là một hộp thịt ba lát, bánh lạt hoặc lon trái cây. Đây là những thứ nằm trong phần ration C của lính hải quân Mỹ bỏ lại khi bàn giao tàu mà nhân viên dưới tàu đều không đụng tới vì ngán tận cổ. Nó được Khôi thu nhặt cất kỹ rồi khi nào tới những vùng xa xôi hẻo lánh đem phát cho trẻ con. Anh cảm thấy sung sướng khi nhìn thấy nụ cười tươi vui và tiếng reo ngạc nhiên của những đứa trẻ nhà quê nghèo nàn.

Con nít kéo tới mỗi lúc một đông. Khôi đếm được chừng mười mấy đứa. Anh và thủy thủ đoàn phát cho mỗi đứa một phong kẹo cao su và một lon trái cây. Lãnh phần xong đám con nít tản mác thật nhanh.

Đang tính thu dọn quà Khôi chợt nghe tiếng gọi.

– Bác ơi bác. Bác có kẹo cho cháu hôn bác.

Khôi ngước lên. Đứa bé gái chừng năm sáu tuổi đang nhìn anh mỉm cười. Nụ cười của nó thật dễ thương. Khuôn mặt trái soan với má lúm đồng tiên, hai mắt tròn to sáng long lanh, hàng mi cong dài và da trắng hồng đứa bé gái thật xinh xắn.

– Bác có nhiều thứ kẹo bánh lắm. Cháu muốn thứ nào?

– Dạ… Thứ nào cháu cũng muốn hết.

Khôi phì cười khi nghe câu trả lời của đứa bé.

– Cháu chỉ xin bác một phong kẹo cao su và một lon trái cây cho má của cháu.

Khôi thầm kinh ngạc khi nghe câu nói của đứa bé. Anh hỏi trong lúc đưa cho nó hai phong chewing gum, một thỏi chocolat và một lon trái cây.

– Cháu tên gì vậy?

– Dạ…Cháu tên là Thùy Trâm.

Khôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Xuyên qua cái tên anh biết đứa bé gái này không phải sinh ra ở đây. Dân quê vùng này họ đặt tên con giản dị như Gáo, Mít, Dừa, Mận, Tư, Năm hay Bảy chứ không có đặt một cái tên lạ, đẹp và văn chương như Thùy Trâm.

– Má của cháu tên gì?

Đứa bé gái hơi nheo mắt nhìn Khôi. Cử chỉ của nó thật dễ thương và ngộ nghỉnh.

– Bác hỏi tên của má cháu để làm gì?

– Thì bác muốn biết tên vậy mà. Tên của cháu đẹp vậy chắc tên của má cháu còn đẹp hơn nữa phải không?

– Cám ơn bác…Cháu nói tên của má cháu cho bác nghe rồi bác đừng học lại với má cháu nghe.

Khôi cười vui vì câu nói của Thùy Trâm.

– Ừ…Bác hứa là sẽ không học lại với má của cháu.

– Má cháu tên là Thùy Dung. Cám ơn bác cho quà. Cháu phải chạy về nhà không thôi má cháu đi kiếm.

Đứa bé gái chạy vụt đi. Khôi đứng nhìn theo bóng của nó khuất sau dãy nhà lá lụp xụp. Anh cảm thấy vui vui vì gặp được đứa bé gái xinh xắn, dễ thương và khôn ngoan. Anh nghĩ thầm chắc má của nó cũng giống như nó. Lắc đầu vì ý nghĩ vẩn vơ của mình anh thu dọn mấy thùng bánh kẹo vào trong tàu.

Đang ngồi đọc sách Khôi nghe có tiếng nói chuyện rồi lát sau Thành, một nhân viên trên tàu bước vào.

– Anh Khôi, Có một ông thượng sĩ trên đồn muốn nói chuyện với anh.

Khôi bước về phía mũi tàu. Anh thấy ông thượng sĩ Bang, đại đội phó đang đứng chờ.

– Bà Bùi của chúng tôi muốn gặp trung úy. Mời trung úy lên đồn.

Khôi hơi cau mày xong lấy lại vẻ tự nhiên.

– Ông vui lòng chờ một chút để tôi mang giày.

Lát sau trong bộ quân phục hải quân Khôi đi theo ông thượng sĩ lên đồn gặp Bà Bùi. Quanh co một hồi ông thượng sĩ dừng lại ở một căn hầm có cửa khép.

– Trung úy cứ vào. Bà Bùi đang ở trong đó.

Khôi gõ cửa. Trong căn hầm vang lên giọng nói thanh thanh.

– Mời trung úy vào.

Khôi xô cửa. Anh hơi khựng lại khi thấy người đàn bà mang súng mà anh đã gặp nơi quán cà phê. Còn Bà Bùi cũng lộ vẻ ngạc nhiên khi gặp lại người lính hải quân mà bà ta đã gặp trong quán cà phê ngày hôm qua. Hai người nhìn nhau giây lát rồi Bà Bùi đứng lên và đưa tay ra. Khôi nắm lấy bàn tay mềm ấm của bà đại đội trưởng kiêm chỉ huy trưởng căn cứ Bảy Hạp.

– Mời trung úy ngồi.

Khôi thong thả ngồi xuống chiếc ghế đối diện với chủ nhân qua chiếc bàn đóng từ những mảnh ván của thùng đạn.

– Tôi xin lỗi trung úy về sự hiểu lầm ngày hôm qua.

– Thưa bà không có chi. Tôi không để ý tới chuyện nhỏ nhặt đó.

Ngừng lại giây lát Khôi cười tiếp.

– Tôi tên Khôi thưa bà.

Khôi xưng tên mình trước như nhằm ý cho người đối diện phải xưng tên. Anh cảm thấy không được thoải mái khi phải nói chuyện với một người đàn bà nắm chức vụ đại đội trưởng kiêm chỉ huy trưởng căn cứ.

– Trung úy cứ gọi tôi là “Bà Bùi”.

Khôi hơi nhếch môi cười. Mặc dù thấy nụ cười của người lính hải quân nhưng Bà Bùi vẫn tảng lờ.

– Sở dĩ tôi mời trung úy lên đây là vì một việc cần thiết.

– Tôi xin nghe bà nói.

– Sáng mai tôi sẽ chỉ huy đại đội mở cuộc hành quân lục xét cũng như dò tìm vị trí đặt súng cối của địch. Tôi cần tàu chở quân.

– Điều này không có gì trở ngại với tôi.

– Cám ơn trung úy. Ngoài ra tôi cần sự yểm trợ tác xạ của tàu trong trường hợp bị địch tấn công.

– Tôi cũng không thấy có điều gì trở ngại.

Khôi nói bằng giọng thật bình thường nếu không muốn nói là lạnh nhạt. Dường như cảm thấy điều đó Bà Bùi cười nói trong lúc trải tấm bản đồ lên trên mặt bàn.

– Khu vực mà chúng tôi định lục soát là đây.

Nhìn theo ngón tay thon dài với móng tay đỏ hồng Khôi thấy khu vực hành quân nằm lọt giữa sông Bảy Hạp và rạch Năm Căn rồi chạy dài ra tới bờ biển. Tuy là vùng sình lầy nhưng cũng có những gò đất cao và rừng thưa khá dầy rất tiện cho địch ẩn nấp để đặt súng cối pháo vào đồn.

– Nếu không có chi phiền tôi mời ông đổ bộ với chúng tôi.

– Thưa bà tôi là lính hải quân chứ không phải là lính bộ binh. Nếu muốn lên bờ tôi phải được phép của cấp trên.

– Chúng ta sẽ không đi sâu và cũng không ở lâu.

Bà Bùi kèo nài. Khôi nói ngắn gọn.

– Thưa bà tôi rất tiếc.

– Hay là ông lạnh cẳng.

Khôi nhíu mày khi nghe câu nói khích cùng với nụ cười mỉa của Bà Bùi.

– Thưa bà tôi không lạnh cẳng. Tôi cũng không sợ chết. Tuy nhiên nếu bà muốn tôi sẽ thi hành. Tôi là lính biệt phái mà.

Bà Bùi nở nụ cười tươi tắn và thích thú vì kế khích tướng của mình đã thành công.

– Cám ơn ông. Bây giờ tôi xin đưa ông về để cho ông có thời giờ chuẩn bị.

Không nói tiếng nào Khôi đứng dậy.

– Cám ơn bà tôi biết đường trở về tàu.

Bà Bùi thân đưa khách ra khỏi hầm trú ẩn. Đứng nhìn theo bóng người lính hải quân đi trên con đường mòn bà ta lẩm bẩm.

– Ông lính này coi vậy mà có anh hùng tính.

9 giờ sáng. Toán lính Địa Phương Quân lần lượt xuống hai chiếc Alpha 9 và Tango 12. Tàu đi vào rạch Năm Căn chừng cây số xong ủi vào bờ. Dặn dò Sinh và Tuyên mấy lời xong Khôi theo Bà Bùi lên bờ. Như đã quen với địa thế tiểu đội chia làm hai toán đi sâu vào trong để lục soát. Bà Bùi quay chỗ khác dấu nụ cười khi thấy Khôi mặc trây di và mang súng như lính bộ binh.

Toán đi bên trái báo cáo tìm thấy dấu vết của địch. Vừa lúc đó có tiếng súng nổ dồn dập. Biết lính của mình chạm địch Bà Bùi dẫn toán thứ nhì lên tiếp viện. Địa thế của vùng này khá trống trải. Chỉ có vài gò đất cao bằng người đứng. Địch quân nấp sau các gò đất và hầm hố đào sẵn nên chiếm được lợi thế. Ngay trước mặt Khôi và Bà Bùi nấp là mô đất cao hơn hết. Địch bố trí khẩu trung liên và súng AK bắn khá chính xác khiến cho lính không dám ngóc đầu lên. Chỉ với khẩu trung liên và vài khẩu súng bá đỏ hay AK mà địch cầm chân hơn hai chục người lính.

Quan sát địa thế xong Khôi nói với Bà Bùi.

– Bà thấy mô đất phía bên phải của chúng ta không. Nếu tới đó được thời tôi có thể dùng khẩu M79 để phá hủy ổ trung liên của chúng.

– Làm sao ông tới đó được.

– Bà và anh em nổ súng tối đa khiến cho địch không ngóc đầu lên. Tôi sẽ bò tới mô đất đó.

– Ông cẩn thận.

Nguyên trung đội tập trung hoả lực bắn vào mô đất có ổ trung liên. Khôi bò thật nhanh rồi mất dạng trong các lùm cây. Bây giờ Bà Bùi hơi lo âu và hối hận vì để Khôi đi có một mình. Rủi có bề gì thời… Chăm chú nhìn về mô đất bên phải xế với mô đất cao nơi địch bố trí khẩu trung liên bà ta mừng rỡ khi thấy bóng người lính hải quân thấp thoáng. Ầm… Âm thanh vang chát chúa cùng với tiếng la hét nơi mô đất cao nhất rồi tiếng súng của địch im hẵn. Mừng rỡ Bà Bùi ra lệnh cho trung đội tiến lên lục soát. Họ thấy ba xác chết không còn nguyên vẹn. Khẩu trung liên nằm chỏng gọng còn hai khẩu súng bá đỏ và AK không bị hư hại gì hết.

– Tôi chỉ bắn có một viên thôi. Thật là may mắn.

Bà Bùi làm thinh khi nghe Khôi nói. Cho lính tiếp tục lục soát chừng một lát không thấy có gì hết bà ta ra lệnh trở về tàu. Trước khi trở về đồn bà ta nói với Khôi.

– Hôm nào tôi sẽ làm tiệc mời ông lên ăn mừng chiến thắng.

– Có gì đâu mà bà phải bận tâm.

Đứng nơi mũi tàu Khôi nói với bà đại đội trưởng. Nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn của người đàn bà anh lắc đầu mỉm cười.

2.

Đang ngồi uống cà phê Khôi thấy Bà Bùi nắm tay một đứa bé đi vào tiệm tạp hóa xế chỗ mình ngồi chừng hai ba chục thước. Anh gật gù cười khi nhận ra đứa bé đó chính là đứa bé gái tên Thùy Trâm. Trả tiền cà phê xong Khôi về tàu. Nhân viên cho biết có một người tự xưng là Bà Bùi tới kiếm nhưng không có anh nên bà ta nói sáng mai sẽ trở lại.

Đang ngồi nói chuyện với Tuyên sau lái tàu Khôi thấy Thành bước vào cho biết có người kiếm. Ra tới mũi tàu anh thấy Bà Bùi đang đứng chờ. Hôm nay bà ta mặc bộ bà ba đen, mang giày bố và khẩu Colt 45 xệ bên hông. Dường như nó là vật bất ly thân của bà ta.

– Tôi mời ông lên nhà tôi ăn cơm trưa. Chắc ông không từ chối.

– Bà có lòng tốt thời tôi đâu từ chối được. Bà chờ tôi một chút.

Hai người đi song song trên con đường đất dọc theo bờ sông mà không ai nói với ai lời nào. Cho tới lúc quẹo vào cổng đồn Bà Bùi mới lên tiếng.

– Ông coi chừng lựu đạn gài hai bên.

– Cám ơn bà. Chắc Việt Cộng về thường lắm thưa bà?

Liếc nhanh người đàn ông đi bên cạnh Bà Bùi trả lời:

– Thưa ông pháo kích thời nhiều hơn nhất là sau tết Mậu Thân đặc công của tụi nó lẻn vào hoài. Có lần tụi nó lọt vào tận hàng rào mới bị phát giác.

Khôi hơi nhếch môi cười. Anh nhận thấy sự thay đổi nơi người chỉ huy của căn cứ Bảy Hạp. Bà ta ăn nói lịch sự, mềm mỏng và lễ phép hơn lúc ban đầu.

– Đặc công của tụi nó giỏi lắm. Tàu hải quân chìm hoài vì bị trúng mìn của tụi nó.

– Ông Khôi chắc đi lính lâu rồi?

– Cũng khá lâu thưa bà.

Khôi trả lời lững lơ khi nghe câu hỏi thăm dò hay tìm hiểu của Bà Bùi. Mình không nên để cho người ta biết về mình nhiều quá. Anh nói thầm như thế. Bà Bùi cũng không hỏi gì thêm. Lính ở đồn có cái lạ là mỗi khi gặp Bà Bùi họ không giơ tay chào mà chắp tay xá ba cái. Tuy thấy điều đó nhưng Khôi không lên tiếng hỏi. Hai người đi xuyên qua một dãy giao thông hào và hầm trú ẩn rồi tới khu gia binh chừng hai ba chục căn nhà lụp xụp lợp tôn vách ván.

Xô cửa vào Bà Bùi nói với khách:

– Mời ông ngồi. Nhà nghèo không có gì hết.

– Còn rộng hơn tàu của tôi.

Khôi cười nói đùa. Nhà này đúng là nhà của lính. Phía sau anh đoán là nhà bếp còn giường ngủ được ngăn cách với chỗ tiếp khách bằng cái màn vải cũ kỹ và phai màu. Cái bàn vuông nhỏ và chỉ có hai chiếc ghế.

– Tôi ít khi có khách. Ông Khôi uống nước gì?

– Nước lạnh thưa bà.

– Xin lỗi ông tôi không có nước lạnh.

Khôi nhìn chủ nhân. Hiểu ý Bà Bùi cười nhẹ.

– Tôi có bia 33. Ông uống được không?

– Một chai thời được.

Bỏ vào trong giây lát bà chủ nhà mang ra hai cái ly nhựa có mấy viên đá cục. Rót bia vào hai cái ly xong bà ta cười.

– Mời ông.

Bà chủ nhà đưa ly lên tỏ ý mời khách. Nhấp ngụm bia Khôi cười hỏi.

– Hình như bà không phải là dân ở đây?

Đưa ly bia lên nhấm môi bà chủ nhà nhìn khách.

– Lý do nào khiến cho ông nói tôi không phải là dân ở đây?

– Tôi thấy bà khác với người dân địa phương.

Bà chủ nhà lắc đầu.

– Ông lầm rồi.

Khôi cười cười.

– Tôi xin lỗi bà về nhận xét của tôi.

Bà chủ nhà không nói bỏ vào trong. Lát sau bà ta bắt đầu dọn cơm.

– Tôi xin phép được giúp bà.

– Cám ơn ông nhưng ông cứ uống bia.

Bữa cơm đạm bạc. Một tô canh bầu. Một dĩa cá chiên. Một dĩa rau luộc.

– Mời ông ăn thử món ăn địa phương. Xin báo trước là tôi nấu ăn tệ lắm.

– Còn ngon hơn đồ hộp của Mỹ.

Nói xong Khôi cầm đũa. Hai người vừa ăn vừa nói chuyện trời trăng mây nước. Lát sau cơm và thức ăn đã biến mất.

– Bà nấu ăn thật ngon. Lâu lắm rồi tôi mới được ăn bữa cơm có vẻ gia đình.

Ánh mắt của bà chủ nhà long lanh hơn cùng với nụ cười tươi hơn.

– Cám ơn ông. Ở dưới tàu các ông ăn gì?

– Thường thì cơm canh cá kho nhưng mì gói làm chuẩn. Còn đồ hộp thì chúng tôi ngán tới đây.

Khôi đưa tay lên ngang cổ trong lúc le lưỡi. Cử chỉ của anh khiến cho Bà Bùi phải bật cười.

– Thường thường khi lãnh đồ hộp chúng tôi đem ra bán cho dân chúng rồi lấy tiền đó mua thức ăn của mình.

– Chúng tôi ít khi ăn đồ hộp. Thỉnh thoảng trên quận hay tỉnh gởi xuống cho một vài thùng.

– Thưa bà tôi có ý kiến.

– Mời ông.

– Tàu của tôi có nhiều đồ hộp lắm mà nhân viên không ai muốn ăn. Nó là của người Mỹ bỏ lại. Tôi thường hay phát cho trẻ con các vùng mà tàu đi công tác. Tôi xin phép bà được phân phát cho các gia đình binh sĩ trong đồn để họ ăn cho biết…

Thấy bà chủ nhà còn do dự Khôi nói với giọng van nài.

– Thưa bà của không đáng bao nhiêu. Tôi chỉ muốn gây thêm sự thân mật giữa anh em binh sĩ trên đồn và dưới tàu. Dù gì mình cũng là những người cùng đứng chung chiến tuyến.

Liếc nhanh khách, Bà Bùi cười.

– Ông đã nói như thế thời tôi xin nhận lời và cám ơn lòng tốt của ông.

– Không có chi thưa bà. Thấy mấy trẻ em ở đây tôi nhớ lại lúc tôi còn nhỏ.

Xô ghế đứng dậy bà chủ nhà nói nhanh.

– Tôi mời ông đi quan sát quanh đồn cho tiêu cơm.

– Bà không sợ tôi làm nội tuyến cho Việt Cộng?

Khôi cười nói đùa trong lúc bước song song với chủ nhà.

– Tôi không tin ông theo Việt Cộng.

– Bà lầm rồi.

– Ngày mai thời tôi không biết nhưng ngay lúc này tôi tin là tôi không lầm.

Khôi cười im lặng vì câu nói của Bà Bùi. Hai người đi một vòng. Khôi nhận xét thấy đồn nằm lẻ loi nơi giữa một vùng đồng trống. Từ hàng rào ngoài cùng tới xóm nhà lá của dân cũng khá xa chừng hai ba trăm thước. Hàng rào kẽm gai giăng mắc khắp nơi. Bốn góc đồn có bốn vọng gác khá cao. Dọc theo giao thông hào có các ụ làm bằng bao cát khá lớn. Một lô cốt lớn nhất nhìn thẳng ra bờ sông đối diện với rạch Năm Căn mà Khôi đoán là hầm chỉ huy.

– Ông có ý kiến gì về hệ thống phòng thủ của đồn?

Khôi cười vì câu hỏi của Bà Bùi.

– Tôi là lính hải quân. Tôi đâu có biết gì.

– Tôi biết ông là lính hải quân. Tôi chỉ hỏi ý kiến của ông dù là “ý kiến không biết gì”.

Bà Bùi nhẹ nhàng ngắt lời người đối thoại. Thấy Khôi hơi có vẻ giận bà ta cười giả lả.

– Tôi xin lỗi ông. Ông làm ơn nói cho tôi nghe cái ý kiến không biết gì của ông đi.

– Tại sao bà lại muốn biết ý kiến của một người lính hải quân không có kinh nghiệm đánh giặc trên bờ.

– Tôi nói ra ông đừng giận thời tôi mới nói.

– Bà cứ nói. Tôi hứa là không phiền giận.

– Ông nhớ lần mình đổ bộ không?

Khôi mỉm cười gật đầu. Anh cười vì chữ “mình” mà Bà Bùi đã dùng.

– Hồi tưởng lại trận đụng độ đó tôi có cảm tưởng ông không phải là một người lính hải quân thuần túy.

Bà Bùi nhìn người đối thoại như muốn bắt mạch. Không thấy nét mặt Khôi có gì khác lạ bà ta nói tiếp.

– Tôi nghĩ ông phải ở một đơn vị tác chiến như bộ binh, biệt động quân, thủy quân lục chiến hay nhảy dù trước khi thành lính hải quân.

Khôi cười cười lảng sang chuyện khác.

– Bà đã hỏi ý kiến thời tôi xin trả lời. Hệ thống phòng thủ thời tạm coi như chặt chẻ chỉ có điều là vũ khí thô sơ và nhất là mìn hay lựu đạn gài chung quanh đồn ít quá. Nếu địch dùng chiến thuật biển người thời đồn sẽ bị tràn ngập.

Bà Bùi thở hơi thật dài.

– Như vậy mà ông nói là ông không biết gì. Đó cũng là mối lo của tôi. Tôi có xin quận và tỉnh tân trang vũ khí thời họ bảo chờ. Họ nói địa phương quân nằm ở cuối danh sách của quân đội.

– Tôi biết. Địa phương quân và nghĩa quân là con nuôi hay con ghẻ.

Nhìn Khôi Bà Bùi cười nói đùa.

– Ông biết hết trơn mà cứ nói là không biết. Ông nói thiệt đi. Ông nói thiệt cho tôi biết đi ông ở binh chủng nào.

Khôi cười cười làm thinh. Bà chỉ huy trưởng căn cứ Bảy Hạp cười đùa bằng giọng nói thân mật.

– Ông có một bí mật. Ngày nào đó tôi sẽ khám phá ra bí mật của ông.

– Bà cũng có một bí mật. Ngày nào đó tôi sẽ khám phá ra bí mật của bà.

Hai người nhìn nhau như đo lường về câu nói của người kia rồi cuối cùng Khôi lên tiếng.

– Thử xem ai khám phá ra trước.

Bà Bùi nở nụ cười duyên dáng.

– Tôi cá với ông là tôi sẽ khám phá ra bí mật của ông trước.

Khôi cười cười.

– Tôi hy vọng bà sẽ được hài lòng.

– Ông học bắn súng M79 ở đâu mà bắn giỏi vậy?

– Bà bắt đầu cuộc điều tra của bà phải không?

Bà Bùi cười thánh thót.

– Ông khôn ngoan quá khiến cho cuộc điều tra của tôi trở thành khó khăn.

– Tôi học bắn súng ở trung tâm huấn luyện hải quân thưa bà.

– Ông không thành thật rồi. Năm sáu năm trước đây trung tâm huấn luyện hải quân làm gì có M79 để cho ông học.

Khôi cười nhưng trong lòng hơi ngạc nhiên về sự hiểu biết của người đàn bà kỳ lạ này.

– Tôi đã nói với bà là lù khù có ông cù độ mạng.

Bà Bùi giơ ngón tay trỏ ra như muốn xỉa vào trán Khôi.

– Ông mà lù khù. Ông khôn tổ bà mà giả dạng ngu cho người ta.

Khôi cười lớn. Tiếng cười của anh lan trong gió.

– Ngày mai ông có làm việc gì không ông Khôi?

– Tôi chắc là không ngoại trừ soạn các lon đồ hộp để giao cho bà.

– Tôi mời ông đi tập bắn súng với tôi.

– Tôi sẵn sàng. Chỉ sợ tôi bắn dở làm bà mất hứng.

– Ông khiêm nhường quá.

Hai người trở lại nhà. Mặc dù chủ nhà cầm cọng nhưng Khôi nói mình cần phải viết bản báo cáo về đơn vị nên xin từ giã. Thân đưa khách ra tận cổng đồn Bà Bùi còn đứng nhìn theo cho tới khi Khôi xuống tàu mới quay trở lại.

Bà Bùi cười tươi tắn khi thấy Khôi đang ngồi nơi mũi tàu chờ mình.

– Ông tính đi tìm Việt Cộng hay sao mà đem nhiều súng đạn vậy?

Khôi cười cười khi thấy bà ta mang trên vai khẩu Carbine M2.

– Tôi đem theo một khẩu M16 và một khẩu M79 để cho bà bắn thử. Nếu bà thích thời tôi sẽ có một đề nghị.

Bước song song trên con đường đất dẫn ra bờ biển Bà Bùi quay nhìn Khôi.

– Xin ông chuyển lời cám ơn của tôi và toàn thể binh sĩ và gia đình của họ về món quà quý giá của nhân viên ba chiếc tàu. Mấy bà vợ của anh em binh sĩ sung sướng được ăn thịt heo, trái cây và chocolat. Họ nói đồ hộp ngon quá mà sao mấy ông hải quân lại chê.

Khôi cười vui vẻ:

– Nếu họ được ăn hoài như chúng tôi thời họ cũng sẽ ngán tới cổ.

– Thấy mấy em nhỏ nhai chewing gum mà thương. Nhiều đứa nhai rồi nuốt luôn không chịu nhả ra.

– Riêng cá nhân tôi xin cám ơn ông.

Khôi đùa một câu:

– Bà muốn nói là cá nhân bà cám ơn cá nhân tôi.

– Ông nghĩ như thế cũng được.

– Tôi làm vì hai lý do. Thứ nhất là bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với những người lính của bà. Họ hy sinh nhiều nhưng không được đền bù xứng đáng. Lý do thứ nhì là lý do cá nhân. Tôi cám ơn bà cho tôi ăn một bữa cơm ngon và cũng với hy vọng bà sẽ mời tôi ăn một bữa cơm khác.

– Lý do nào quan trọng hơn?

Cười cười không trả lời Khôi hỏi lại.

– Bà muốn tập bắn nơi nào?

– Ông thấy gốc cây đó không.

Hai người dừng lại. Tháo khẩu M16 trên vai xuống Khôi đưa cho Bà Bùi. Chỉ sơ cho bà ta cách nạp đạn, lên đạn, cách nhắm mục tiêu anh cười nói.

– Bà thử đi. Nó khác hơn khẩu M2 của bà nhiều lắm.

Bà Bùi đưa súng lên vai nhắm mục tiêu xong bóp cò. Khôi nhận thấy mặc dù chân yếu tay mềm song bà ta bắn khá chính xác. Nếu có thời gian tập luyện để quen với loại súng mới này bà ta sẽ bắn giỏi hơn nhiều lắm.

Bắn hết một băng đạn Bà Bùi cười nói với Khôi.

– Súng này ít giật hơn M2. Tôi thích lắm.

– Nó bắn nhanh và xa hơn M2 đồng thời sức phá hoại của nó cũng mạnh hơn. Bây giờ tới phiên M79.

Khôi chỉ cách nạp đạn, nhắm mục tiêu xong đưa khẩu súng cho Bà Bùi.

– Có hai cách bắn M79. Đó là bắn thẳng hoặc bắn vòng cầu. Khi nào địch ở gần quá mình có thể bắn trực xạ như súng thường còn bắn vòng cầu thời dùng cho mục tiêu xa hơn.

Bà Bùi cười thích thú khi thấy bùn đất bay tứ tung trước mặt mình chừng ba bốn chục thước.

– Ước gì tôi có được vài khẩu súng này.

Khôi quay qua cười nói.

– Tôi có thể giúp bà chuyện đó.

– Tôi không hiểu ý của ông.

– Tàu của tôi có nhiều súng lắm. Những khẩu súng này không có trong danh sách của đơn vị. Tôi muốn nói là nếu các khẩu súng này có mất thời cũng không ai hay biết. Tôi có thể cung cấp cho đại đội của bà một số M 16, M79, trung liên, đại liên và lựu đạn.

Bà Bùi quay nhìn Khôi đăm đăm. Người lính thủy nhìn thấy ánh mắt long lanh, làn da mặt hơi hồng lên vì ánh mặt trời và đôi môi hồng hơi mím lại như cố gắng để không cười.

– Lý do nào thúc đẩy ông muốn giúp tôi?

Khôi cười cười.

– Tôi không muốn bà chết. Bà còn sống thời tôi mới được bà mời ăn cơm và nhất là tôi mới còn có cơ hội khám phá ra cái bí mật của bà.

Bà Bùi cười đùa:

– Hóa ra ông giúp tôi vì có lợi cho ông chứ không phải vì ông…

Bà ta bỏ lững câu nói ở đó.

– Còn một lý do nữa mà tôi chưa muốn nói ra.

– Lý do gì ông nói cho tôi nghe đi.

Khôi nhìn ra bìa rừng xa xa. Anh hơi mỉm cười khi nghe giọng nói nhuốm chút năn nỉ và nhỏng nhẽo của Bà Bùi. Anh cũng biết bà ta đang ngắm mình.

– Khi nào có dịp tôi sẽ nói cho bà nghe.

– Ông nhớ lời ông hứa nghe chưa.

Khôi cười lớn:

– Thôi mình đi về. Chắc cũng phải hai ba ngày nữa tôi mới có thể giao súng cho bà được.

– Giúp tôi ông có bị rắc rối gì không?

– Không. Tôi cần thời giờ để kiểm kê vũ khí trên tàu. Những khẩu súng nào không có tên trong danh sách sẽ được xem như thừa.

Hai người vừa đi vừa trò chuyện thân mật như bạn. Tới nơi tàu đậu Khôi mời Bà Bùi xuống tàu uống nước nhưng bà ta từ chối nói cần phải về nấu cơm.

Ba ngày. Khôi bận bù đầu vì phải lục lọi khắp nơi trong tàu để kiểm kê vũ khí và đạn dược. So sánh bản danh sách thực thụ của tàu với bản danh sách tự kiểm kê Khôi biết mình dư thừa khá nhiều súng đạn. Điều này cũng do ở chương trình Việt Nam Hoá Chiến Tranh và Chuyển Giao Cấp Tốc của quân đội Hoa Kỳ. Cuối năm 1967 Khôi được thuyên chuyển xuống chiến đỉnh do trung sĩ nhất Bob Kent làm thuyền trưởng. Anh tập sự dưới quyền của ông ta để sau đó ông ta sẽ bàn giao chiến đỉnh lại cho anh chỉ huy. Nhờ số vốn liếng Anh ngữ học ở trường và Hội Việt – Mỹ, Khôi quen với thủy thủ đoàn trên tàu và sau đó trở thành bạn thân của Kent. Cũng vì lý do này mà khi giao tàu Kent chỉ bàn giao cho có lệ và chỉ lập bản danh sách rất sơ sài. Ông ta sắp về hưu nên cũng chẳng để ý tới việc lập sổ sách một cách chính xác. Điều này chỉ có mình anh biết và được anh giữ kín không tiết lộ cho ai kể cả nhân viên trên tàu.

So sánh lại hai danh sách một lần nữa Khôi thấy mình cần phải lập một bản danh sách thứ ba. Theo bảng danh sách này anh có 3 khẩu đại liên M60, 16 khẩu M16 mà 12 khẩu còn nguyên trong thùng, 3 khẩu M14, 7 khẩu M79, 8 thùng lựu đạn, 11 thùng đạn M16, 15 thùng đạn đại liên M60, 7 thùng đạn M79, 6 thùng đạn trung liên M14 và 3 thùng trái sáng. Điều làm cho Khôi lo âu là không biết làm sao để giao cho Bà Bùi số lượng vũ khí lớn mà các nhân viên trên tàu không hay biết. Suy đi tính lại Khôi thấy mình cần phải bàn tính với bà ta với hy vọng tìm ra giải đáp cho vấn đề khá phức tạp này.

Giơ tay chào Khôi người lính gác cổng cười nói một cách vui vẻ.

– Kính chào trung úy. Trung úy mạnh khoẻ không?

Đưa gói thuốc Pall Mall ra mời người lính Khôi cười hỏi.

– Cám ơn anh. Bà Bùi chắc có trong đồn phải không anh?

– Dạ. Từ sáng tới giờ tôi không thấy bả ra đây.

Vào tới trong đồn Khôi thấy Bà Bùi đang bước ra. Thấy Khôi bà ta cười lên tiếng.

– Tôi đang định tìm ông.

– Tôi cũng tính gặp bà.

– Mời ông vào văn phòng của tôi.

Hai người bước vào phòng làm việc. Ngồi xuống chiếc ghế đẩu Khôi nhìn người đối diện.

– Tôi có một tin vui cho bà. Đây là số vũ khí mà tôi định giao cho bà.

Khôi đưa bảng danh sách và Bà Bùi tròn mắt khi đọc. Ngước lên nhìn Khôi bà ta nói với giọng vui mừng và cảm động.

– Tôi không biết nói gì để cám ơn ông.

– Tôi chỉ giúp đỡ những người bạn cùng chiến tuyến với mình.

– Tôi xin mời ông bữa cơm chiều hôm nay.

Khôi cười.

– Cám ơn bà nhưng tôi không thể ăn cơm khi chưa tìm ra cách để giao số vũ khí tới tay bà. Dù đây là số vũ khí dư thừa nhưng tôi cũng không muốn nhân viên trên tàu biết.

– Tôi hiểu ý của ông. Nếu không cho tôi ông cũng đem đổ xuống sông.

Khôi lộ vẻ mừng rỡ khi nghe câu nói của Bà Bùi. Gõ gõ ngón tay trỏ lên mặt bàn mấy cái Khôi cười cười.

– Nhờ bà nói mà tôi nghĩ ra một cách. Tôi sẽ đem súng đạn quăng xuống sông để cho lính của bà vớt lên.

– Ông thấy chưa. Tôi nói ông là một người khôn ngoan có sai đâu.

– Cám ơn bà. Chính bà cho tôi ý kiến đó. Bà cho lính chuẩn bị và thấy khi nào tôi treo lá cờ màu đỏ là chúng ta bắt đầu.
(Xem tiếp phần 2)