
Hàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật Nguyễn Trọng Trí, là một trong những gương mặt đặc biệt và tài hoa nhất của phong trào Thơ mới Việt Nam. Ông là người khởi xướng Trường thơ Loạn, đồng thời để lại một thế giới thi ca đầy ám ảnh, vừa lãng mạn, vừa đau thương, vừa huyền ảo. Cùng với Quách Tấn, Yến Lan và Chế Lan Viên, ông được văn giới Bình Định đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” – bốn người bạn văn chương của đất Đồ Bàn.
Hàn Mặc Tử sinh ra tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình (nay là Quảng Trị). Gia đình ông có truyền thống học hành và văn chương. Cha ông làm việc trong ngành thông ngôn, kí lục nên thường xuyên phải chuyển công tác. Vì vậy, từ nhỏ Hàn Mặc Tử đã theo học ở nhiều nơi như Sa Kỳ, Quy Nhơn, Bồng Sơn và Huế. Năm 1926, cha ông qua đời. Hàn Mặc Tử tiếp tục học tại trường Pellerin ở Huế trước khi trở về Quy Nhơn vào năm 1930.
Từ nhỏ, ông đã có vóc dáng gầy yếu, tính tình hiền lành, giản dị, ham học và đặc biệt yêu thích văn chương. Ông bắt đầu làm thơ từ rất sớm, khoảng 16 tuổi. Những năm đầu sáng tác, Hàn Mặc Tử sử dụng các bút danh Phong Trần và Lệ Thanh.
Đến năm 1936 mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.
Ông từng có dịp gặp nhà chí sĩ Phan Bội Châu và nhận được sự khích lệ trên con đường văn chương. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Năm 1932, ông vào Sài Gòn lập nghiệp, từng làm việc tại Sở Đạc điền và sau đó trở thành phóng viên, phụ trách trang thơ cho báo Công luận.
Trong thời gian này, ông bắt đầu trao đổi thư từ với Mộng Cầm, một nữ thi sĩ ở Phan Thiết. Mối tình với Mộng Cầm cùng những mối duyên khác như Hoàng Cúc, Mai Đình, Thương Thương, Ngọc Sương… về sau đã trở thành nguồn cảm hứng quan trọng trong thơ Hàn Mặc Tử.
Thơ ông dần chuyển từ những vần thơ cổ điển sang một thế giới mới đầy cảm xúc mãnh liệt, hình ảnh kỳ ảo và sức tưởng tượng mạnh mẽ.
Khoảng giữa thập niên 1930, Hàn Mặc Tử bắt đầu có những dấu hiệu của bệnh phong. Khi ấy, hiểu biết về căn bệnh này còn hạn chế, người mắc bệnh thường bị xã hội xa lánh và cách ly.
Bệnh tật khiến cuộc sống của ông ngày càng đau đớn và cô độc. Nhưng chính trong những năm tháng ấy, sức sáng tạo của Hàn Mặc Tử lại đạt đến độ mãnh liệt nhất.
Nỗi đau thể xác, sự cô đơn và khát vọng sống được chuyển hóa thành những câu thơ dữ dội và đầy ám ảnh.
“Máu đã khô rồi thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ!
Từ nay trong gió – trong mây gió,
Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ….”
– Trích bài thơ “Trút linh hồn”
Ngày 20 tháng 9 năm 1940, Hàn Mặc Tử được đưa vào Trại phong Quy Hòa ở Quy Nhơn. Chưa đầy hai tháng sau, vào rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940, ông qua đời tại đây, khi mới 28 tuổi.
Một cuộc đời ngắn ngủi khép lại, nhưng những gì ông để lại cho thi ca Việt Nam thì vượt xa giới hạn của một đời người.
—–————-
Tác phẩm tiêu biểu:
MÙA XUÂN CHÍN
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
**************
NHỮNG GIỌT LỆ
“Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?
Bao giờ tôi hết được yêu vì,
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tựa si?
Họ đã xa rồi khôn níu lại,
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa…
Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”
…
Chính sự kết hợp giữa cái đẹp và cái đau, giữa thực tại và mộng tưởng, giữa trần thế và thế giới tâm linh đã tạo nên một Hàn Mặc Tử không giống bất kỳ nhà thơ nào khác.
Nhà thơ Chế Lan Viên từng đánh giá Hàn Mặc Tử là một hiện tượng đặc biệt của thi ca Việt Nam, một tài năng xuất hiện với sức sáng tạo rực rỡ và khác thường.
Ngày nay, mộ Hàn Mặc Tử tại Ghềnh Ráng, Quy Nhơn đã trở thành một địa điểm gắn liền với tên tuổi của thi nhân.
28 năm cuộc đời – hơn một thập kỷ cầm bút – nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một thế giới thơ mà càng đọc, người ta càng cảm nhận được sự kỳ lạ, đau đớn và đẹp đẽ của một tâm hồn luôn khao khát được sống, được yêu và được hòa mình vào cõi vô tận của thi ca.
**Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm các tuyển tập sau ( mỗi tập khoảng trên dưới 20 bài thơ):
Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật)
Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời)
Thơ Điên (hay Đau Thương, thơ gồm ba tập: 1. Hương thơm; 2. Mật đắng; 3. Máu cuồng và hồn điên-1938)
Xuân như ý
Thượng Thanh Khí (thơ)
Cẩm Châu Duyên
Duyên kỳ ngộ (kịch thơ-1939)
Quần tiên hội (kịch thơ, viết dở dang-1940)
Chơi Giữa Mùa Trăng (tập thơ-văn xuôi)
Ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế…
Năm 2001, nhà xuất bản Arfuyen đã xuất bản tuyển tập thơ của Hàn Mặc Tử sang tiếng Pháp, lấy tên Le Hameau des roseaux (Đây thôn Vĩ Dạ).
P/S: ảnh AI phục dựng từ ảnh chân dung Hàn Mặc Tử.
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=953278907801690&set=a.697610156701901&type=3&mibextid=wwXIfr