https://www.facebook.com/taman.nguyen.130517CA/videos/1729097864816023
Kính thưa Quý vị,
“Có ai nghĩ… giữa cuộc sống mịt mù khói súng, vang rền tiếng đạn bom, lơ lửng trên cái chết… những người Lính Việt Nam Cộng Hòa lại viết lên những vần thơ đẹp nhất về TÌNH YÊU của con người: Tình Yêu đất nước, Tình yêu tha nhân, Tình yêu đồng loại, Tình yêu gia đình, Tình yêu đôi lứa… Và cũng chính vì TÌNH YÊU cao cả này họ đã chấp nhận sống đời lính chiến đầy hy sinh, giữa vô vàn khốn khổ, gian nan, hiểm nguy, kể cả cái chết bi thảm nhất!”
Trên đây là lời của tác giả, nữ sĩ MINH HÂN, trong Lời Ngỏ về chính thi tập của mình: “ NHỮNG VẦN THƠ TỪ MỘT THỜI CHINH CHIẾN “.
Tựa đề thi phẩm mang nhiều ý nghĩa:
Đó là những vần thơ của chính tác giả, viết từ một thời chinh chiến. Thông thường độc giả sẽ hiểu như thế.
Nhưng, nếu đọc Lời Ngỏ, chúng ta sẽ biết tựa đề này mang thêm một ý nghĩa khác: Những vần thơ từ một thời chinh chiến này lại chính là người lính Việt Nam Cộng Hoà. Con người họ; cuộc đời họ; tuổi trẻ của họ; lý tưởng của họ; những cuộc chiến đấu đầy hào hùng, dũng cảm và cam go của họ; tình yêu của họ dành cho đất nước, cho đồng bào, cho gia đình, cho người tình, cho vợ, cho con. Chiến thắng của họ; tinh thần bất khuất của họ; sự hy sinh và gục ngã của họ… là những vần thơ đẹp nhất, bi tráng nhất trong thế giới thi ca. Con người họ đầy chất thơ… Và Họ chính là thơ.
Cuộc chiến nghiệt ngã đã qua đi hơn nửa thế kỷ, nhưng những vần thơ người lính Việt Nam Cộng Hoà dệt nên bằng chất lính và chất thơ trong con người Quân Nhân của QL/VNCH vẫn vang vọng đến tận hôm nay, và sẽ còn vang vọng mãi mãi trong lịch sử Việt Nam.
Những người lính VNCH dũng cảm lắm. Tình yêu của họ đằm thắm lắm. Sự hy sinh của họ cao cả lắm. Nhưng cuộc sống họ cũng rất âm thầm …
Người Lính VNCH không tự đề cao mình. Họ âm thầm đến độ ngay cả người đương thời cũng chưa biết rõ về con người cao quý của họ, nói chi đến những thế hệ về sau.
Bởi thế, phải có những người thay họ, đem chất lính và chất thơ của họ diễn đạt thành những vần thơ cụ thể. Nữ sĩ MINH HÂN là một trong những người ấy.
Thơ viết về người lính Việt Nam Cộng Hoà không nhiều, bởi vì những người lính làm thơ không nhiều. Họ là những nhà thơ đặc biệt, đem máu và nước mắt, đem chiến thắng và chiến bại, đem vinh quang và nhọc nhằn dàn trải trên trang giấy qua những vần thơ.
Nữ sĩ MINH HÂN là nhà thơ đặc biệt hơn, vì đó là một phụ nữ. Ít có phụ nữ nào làm thơ cho lính và về lính. Là người yêu của lính, là vợ của lính, nữ sĩ MINH HÂN đã đem tài năng và tình yêu của mình, viết những vần thơ thay cho lính, những vần thơ về đời lính, những vần thơ thiết tha gửi lính.
Hãy đọc NHỮNG VẦN THƠ TỪ MỘT THỜI CHINH CHIẾN của nữ sĩ MINH HÂN để cùng tác giả cảm phục, tri ân và tôn vinh NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ.
VietLife TV chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm: NHỮNG VẦN THƠ TỪ MỘT THỜI CHINH CHIẾN của Nữ sĩ MINH HÂN.
MC: THỤY VY
Keyboard: QUÂN NGUYỄN
***TÁC GIẢ:
– Nữ sĩ MINH HÂN: tên thật là Đặng Thị Hằng, sanh năm 1951, tại Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn…trong một gia đình LÍNH.
Ba của Minh Hân (MH) là một Sĩ Quan TQLC, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh, từ sau khi tốt nghiệp Khóa 1 trường SQTB Nam Định, cho đến khi ông giải ngũ, với ân thưởng “Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương”. Dầu vậy, MH cùng các chị em vẫn được ba mẹ khuyến khích và lo lắng cho ăn học, do ưu tư luôn dằn vặt ba mẹ: “Các con phải ráng học cho có một nghề nghiệp vững vàng, vì lớn lên trong thời chiến, các con sẽ nhiều phần lấy chồng là LÍNH, lỡ ra sau này chồng có mệnh hệ nào, còn có phương tiện mà nuôi con!”….
Và, MH tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, vào đúng năm mất nước 1975. MH từng có người yêu học cùng trường, anh phải đăng lính, Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, sau lệnh Tổng Động Viên, năm 1973. Anh và MH đã hứa hôn, trước khi Anh ra đơn vị và chờ MH ra trường, mới được làm đám cưới (điều kiện của Ba!). MH chỉ biết Anh đi lính Biệt Động Quân…Lần cuối cùng gặp nhau là ngày 25 tháng Tư, 1975, trong tình hình rất bất an của Thủ Đô Sài Gòn. Khi anh đến trường tìm MH, anh chỉ kịp dặn dò “đừng đi đâu…tình hình rất nguy hiểm…chờ tin anh!”, rồi anh lái chiếc xe zeep mượn của cấp chỉ huy về họp ở Bô Tư Lệnh, trở ra đơn vị…nghe nói ở Long Thành, Long Khánh gì đó….! Sau đó là..mất nước…là mất tất cả… MH chẳng còn gặp lại Anh nữa. MH đã từ chối di tản cùng gia đình cũng vì ..”chờ tin anh!”. Nhưng đằng đẵng 18 năm ở lại với chế độ CS
MH sau cùng cũng đành chịu thua, sang Mỹ năm 1993. MH lập gia đình với Hải Quân Trần Trọng An Sơn năm 2005 và theo anh sinh hoạt rất tích cực trong cộng đồng tại Nam Cali này. Phu quân MH mất năm 2021. MH có giúp anh Sơn edit và ra mắt 2 Tập Thơ : Nỗi Lòng Và Tâm Tư Người Lính Biển, NHỮNG VẦN THƠ TỪ MỘT THỜI CHINH CHIẾN là tập thơ thứ hai của riêng MH. làm trong những ngày tháng “gần cuối đời nhìn lại…”
Tập thơ 1 VỢ LÍNH, ra mắt tháng 11 năm 2025, tại nơi MH thường sinh hoạt là “Trại Gia Binh”, do một số các chị em góa phụ Vợ Lính tổ chức, để nhớ lại một thời …theo chồng đi chinh chiến! MH viết lại trong tập NVTTMTCC này, một số ký ức của riêng mình, cũng như của các chị, em bạn vợ lính…Được sự hưởng ứng và khích lệ lớn lao của các anh chị em quân đội cũng như thân hữu, tập thơ Vợ Lính cần tái bản…
Sẵn MH có một số bài thơ về LÍNH làm rải rác từ khi sang Mỹ đến giờ, nên mới ghép hai tập THƠ LÍNH và VỢ LÍNH lại thành ” NHỮNG VẦN THƠ TỪ MỘT THỜI CHINH CHIẾN”, thay vì in thành 2 tập rời, đồng thời sửa chữa một số khuyết điểm về layout của tập Vợ Lính.
***DIỄN GIẢ:
– Nhà thơ lính TRẠCH GẦM: Tên thật là Nguyễn Đức Trạch, quê Quảng Ngãi, nhưng sinh trưởng tại Saigon. Ông xuất thân trong một gia đình truyền thống văn chương, thân phụ là nhà báo kỳ cựu Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy và thân mẫu là nữ văn sĩ nổi tiếng Bà Tùng Long. Trạch Gầm cũng như những người em của mình (n/văn Nguyễn Đức Lập, n/văn Nguyễn Đông Thức) không chỉ ở văn chương chữ nghĩa, mà còn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc tư tưởng từ gia đình. Tuy nhiên, ông đến với thơ văn, đi vào cuộc chiến khá muộn.
Năm 1965, tròn 23 tuổi Trạch Gầm nhập ngũ khóa 21 Trường SQTB Thủ Đức, và có mười năm lăn lộn nơi chiến trường. Thời gian này, ông bắt đầu viết lách, và đăng tải rải rác trên các báo trong và ngoài quân đội.
Nhưng phải đến sau tháng 4-1975, với gần mười năm “cải tạo” tù đày, cùng những năm tháng cư ngụ nơi đất khách Hoa Kỳ, cây bút Trạch Gầm như có ma lực. Viết không nhiều, song những tác phẩm của ông đã đánh đúng vào tâm lý, chạm đến được tận cùng nỗi đau, sự cảm thông của con người, nhất là đối với những người lính miền Nam VN đã trải qua cuộc chiến tranh, tù tội. Vì vậy, tự sự là một trong những thủ pháp nghệ thuật làm nên những trang viết ấy của Trạch Gầm.
Cho đến nay, Trạch Gầm đã cho in ấn, xuất bản ba tập thơ: “:Vụn Vặt, Ráng Chịu, Dấu Giày Chinh Chiến”, cùng hai tập truyện: “Bên Lề Cuộc Chiến, Chôn Lầm Huyệt Nhớ”, và tuyển tập “Nhốt Vòng Nhớ Thương”. Do vậy, ta có thể thấy, tuy là một nhà thơ, nhưng văn xuôi đã góp phần không nhỏ làm nên tên tuổi Trạch Gầm.
– Hổ xám PHẠM CHÂU TÀI: Cựu Thiếu Tá Phạm Châu Tài, còn có biệt danh là “Hổ Xám,” cựu chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, người đã từng cầm quân tham chiến trận An Lộc, và cũng là người chịu trách nhiệm trấn thủ cuối cùng tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là một sĩ quan dũng cảm trong những cấp chỉ huy anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nói chung, và riêng cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Ông đã góp phần không nhỏ trong việc đưa đơn vị này vào quân sử.
Từ những chiến trường Quảng Trị, Kon Tum, Bình Long, Tây Ninh, Biên Hòa,… trên những địa danh Khe Sanh, Bồng Sơn, An Lão, Charlie, An Lộc, đại lộ kinh hoàng, trên Liên Tỉnh Lộ 7B và nhiều chiến địa khác cho đến ngày gãy súng, Hổ Xám Phạm Châu Tài vẫn chỉ với một binh chủng Mũ Xanh của màu áo Lực Lượng Đặc Biệt, và sau đó có danh xưng là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Biệt danh “Hổ Xám” do phong cách chiến đấu gan dạ, quyết đoán và tài thao lược trên chiến trường.
– Cựu thiếu tá TQLC QUÁCH NGỌC LÂM: Sinh năm 1941 tại Sài Gòn.Tốt nghiệp khoá 12 Thủ Đức. Phục vụ 13 năm (62 -75) tại Tiểu đoàn I Thủy Quân Lục Chiến. Chức vụ cuối cùng là Thiếu Tá binh chủng TQLC. Tù vc 9 năm qua các trại Yên Bái. Tân Lập (Vĩnh Phú). Z30-D Hàm Tân. Ra khỏi tù vc tháng 9 năm 1984. 1987 vượt biển đến Thái Lan, trại Phanat Nikhorn. 1988 được định cư tại California. Đi học lại và làm chuyên viên cho hãng Gourmet Foods 21 năm trước khi về hưu.
– Nhà thơ DONRY NGUYỄN: Chào đời vào ngày 20/7/1954, đúng thời điểm chia đôi đất nước theo Hiệp định Geneva. Tên khai sinh mang ký ức của một giai đoạn lịch sử. Ông từng tham gia quân ngũ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, trải qua nhiều thăng trầm và biến cố của thời cuộc trong binh chủng pháo binh/QLVNCH. Định cư: Sau năm 1975, ông sinh sống tại hải ngoại và tiếp tục theo đuổi hoạt động văn học nghệ thuật tại cộng đồng người Việt ở Mỹ (như tại Texas và California).Thi tập “Người Lính Làm Thơ Như Viết Sử” phát hành vào cuối tháng 4 năm 2025, sau đó có các buổi ra mắt sách tại Houston và khu vực Little Saigon. Cuốn sách gồm các sáng tác thơ ca đúc kết từ chính những gì ông đã chứng kiến và trải qua trong chiến tranh. Những vần thơ mang đậm chất hiện thực, mộc mạc, giống như một cuốn sử ký bằng thơ ghi lại nỗi đau thương, mất mát và góc nhìn của người lính qua các biến động của lịch sử Việt Nam.
Văn nghệ minh họa: TƯỜNG GIANG, QUÝ HÀ, YÊN LY, CHINH NHÂN, HOÀNG OANH, NGỌC QUỲNH & ĐÔNG TRIỀU.