CHỮ “BẬU”, TIẾNG DÂN DÃ THÂN THƯƠNG CỦA NGƯỜI MIỀN TÂY Nguyên Lạc/Sài Gòn Trong Tôi)

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail

Ngôn Ngữ Miền Nam.

May be an image of boat and text

“Bậu” là tiếng dân dã, tiếng thân yêu của vùng tây nam bộ chúng tôi. Mỗi lần nghe ai nói, hoặc gặp trong thơ văn là lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Tiếng “Bậu” nầy hinh như bây giờ trong nước ít ai dùng, ít ai nhắc đến! Tại sao? Vì quê mùa? Tôi xin được tìm hiểu và giới thiệu đến các bạn vài bài thơ có liên quan đến chữ “Bậu” thân yêu nầy.
Định nghĩa chữ “Bậu”
1. Chữ BẬU trong sách vở
Trong các sách vở khi định nghĩa “Bậu”:
– Bậu: Chữ nôm, nghĩa: Em, mầy như chữ em bậu, bậu bạn (bạn hữu chung cùng; đi theo nhau, hôm sớm có nhau), qua bậu (Tao mầy (tiếng nói thân thiết) như lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ) (1)
– Bậu chỉ người nói chuyện với mình khác phái, có ý thương mến, thân mật (2)
– Bậu chữ được dùng như tiếng “em”, tiếng gọi vợ, hoặc nhân tình, hay “em bạn” (3)
– Bậu (danh từ) (xưa): tiếng thân kêu vợ mình.(4)
(Theo Hai Trầu – Lương Thư Trung)
2. Chữ Bậu trong tự điển Nguồn Gốc Tiếng Việt
Xin ghi ra đây trích đoạn về chữ “Bậu” của nhà văn Nguyễn Văn Sâm:
[… Tự điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của BS Nguyễn Hy Vọng cho biết Người Nùng có tiếng bậu nghĩa là em, dùng trong cách nói thân mật. Người Thái có tiếng phậu cũng theo nghĩa tương tợ. (Sài Gòn trong tôi/ Nguyên Lạc)
Tại sao người VN ở Miền Bắc không có tiếng “bậu” thân thương như ở Miền Nam?
Có lẽ tiếng phậu của Thái vào ngôn ngữ của người Nùng rồi đứng đó không ảnh hưởng lên ngôn ngữ Việt Nam. Còn tiếng Phậu theo người Miên, theo quân Xiêm La vào Miền Nam tạo thành tiếng bậu trong Nam Kỳ.
Người Nam thường nói bậu bạn, do đó bậu khi nhập tịch VN trở thành bạn, trong cách nói thân mật. Thân mật đến nỗi trở thành đồng nghĩa với em, với vợ. Người Nam cũng nói nó làm bạn với … có nghĩa là cưới vợ lấy chồng với…. Văn thơ Nam Kỳ dùng chữ bậu chỉ người mình thương mến khi nói trực diện
Dùng thét rồi người ta tưởng rằng bậu chỉ phái nữ, thiệt ra cũng được dùng cho phái nam với nghĩa nguyên thủy là bạn, là em với cách nói thân mật.
Với thời gian chữ bậu đã chuyển từ em, bạn, chỉ cả hai giới gái, trai dùng biểu lộ sự thân mật thành em gái thân yêu, thành ‘người yêu nhỏ’ quá hơn sự thân mật thường tình mà ta thấy nhan nhản trong ca dao, trong những lời tỏ tình của trai gái Nam Kỳ.(Sài Gòn trong tôi/ Nguyên Lạc)
Chữ qua: Chữ qua là tiếng biến âm từ tiếng quá (hóa) giọng Triều Châu của chữ ngã 我 (tôi). Dùng tiếng tôi, anh bình thường, người ta thấy không sang, không thân mật, và quan trọng nhứt là hơi mất tự nhiên nên người ta dùng tiếng qua.
Chuyện nầy cũng tương tợ như người Việt Nam thời trước hay dùng toi, moi (tutoyer) khi nói với bạn hay với cả người mình yêu khi mới bắt đầu làm tỉnh tấn công tình cảm người tình. Tuổi trẻ Việt Nam có một chút học vấn khi bắt đầu tán tỉnh cũng thích dùng hai từ me, you hơn là anh em, em anh. Chữ qua với nghĩa tôi anh thân mật cũng thấy trong văn chương thế kỷ 19… ]
(Về hai tiếng bậu qua – Nguyễn Văn Sâm)
3. Chữ BẬU theo cảm xúc của thi nhân
Xin được trích đoạn ra đầy ý nghĩ, cảm xúc về chữ BẬU của thi sĩ Lê Văn Trung:
[… Không biết các nhà ngôn ngữ học giải nghĩa “bậu” như thế nào, tôi vẵn đinh ninh rằng: dù giải nghĩa thế nào đi nữa cũng không thể lột tả hết ý nghĩa tình cảm sâu đậm thiết tha mà đầy thương cảm của đại danh từ ngôi hai nầy.
“Bậu” là ai?
“Bậu” là một thoáng gặp gỡ trong đời nhưng làm ta ngây ngất và hình bóng “bậu” in mãi trong trái tim dào dạt thương yêu của ta.
“Bậu” là ai?
“Bậu” là sắc là hương bừng nở một thời trong đam mê say đắm của ta
“Bậu” là ai?
“Bậu” là da là thịt là ái ân nồng thắm một đời vợ chồng…]
[“Bậu” trong Thơ Trần Phù Thế – Lê Văn Trung]
“Bậu” có thể ở đâu đó trong bẽ bàng ngang trái, đã để lại trong lòng ta trong lòng “bậu” những vết cào xước đủ làm chảy máu trái tim.
“Bậu” đã có thể đã cùng ta đi trọn cõi trăm năm gian nan-cơ cực-hạnh phúc-khổ đau. Nhưng “bâu” cũng có thể ở đâu đó trong dang dỡ phân ly. Cho dù “bậu” là ai, một khi ta đã cất tiếng thiết tha gọi “bậu”, thì cái nghĩa trăm năm, cái tình vạn kiếp cứ mãi với ta lên thác xuống ghềnh. Không bao giờ ta quên! Không thể nào nguôi quên!
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẦN PHÙ THẾ
Xin được giới thiệu đến các bạn anh Trần Phù Thế, người thi sĩ thường dùng chữ “Bậu” trong các bài thơ của mình; và lạ lùng thay, anh cũng là người cùng quê, học cùng trường với tôi. Chắc có lẽ chữ “bậu” này đã ngấm trong máu chúng tôi, người dân dã sống bên bờ sông Hậu, bên bờ kinh rạch Tây Nam Bộ.(Sài Gòn trong tôi/ Nguyên Lạc)
1. Tiểu sử Trần Phù Thế
Trần Phù Thế chào đời tại:
[…Làng Hậu Thạnh thuộc quận Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nằm trên trục lộ từ Sóc Trăng đi Đại Ngãi. Đó là nơi tôi chào đời năm 1943. Ba tôi làm ruộng và Má tôi buôn hàng xén tại nhà.Khi lớn lên nghe Ba tôi kể lại Năm 1945 người Miên từ xã Văn Cơ “Nổi Dậy”. Họ uống rượu say, mắt đỏ ngầu, tay cầm Mã Tấu gặp người Việt là chém liền. Họ đi đến đâu là cướp của, đốt nhà. Ba tôi là nạn nhân của chúng. Nhưng may mắn chạy thoát được với vết thương chí mạng trên lưng vai trái.
Sau đó Ba Má tôi dọn nhà ra chợ Đại Ngãi (nằm trên ngã ba sông Bassac*và sông Đại Ngãi) cách Hậu Thạnh ba cây số. Thời đó, chợ Đại Ngãi rất trù phú, đông dân, trên bến dưới thuyền, là nơi tụ hội của giới thương hồ từ Long Phú, cù lao Dung lên, Cầu Quan, Trà Ôn qua và Kế Sách xuống. Khi gia đình sinh sống ở Đại Ngãi lúc đó tôi đã chín tuổi mới được đi học. Học xong Tiểu Học tôi vào Sóc Trăng trường trung học công lập Hoàng Diệu. Tôi đi lính K25/Ttủ Đức năm 1967. Sau Tết Mậu Thân (1968) gia đình dọn về Cần Thơ. Cấp bậc sau cùng: Đ/úy Quân báo. Sau năm 1975 học tập “cải tạo” 7 năm. Định cư tại Mỹ năm 1992…]
[Trích lời Trần Phù Thế trả lời phỏng vấn của nhà văn Hai Trầu – Lương Thư Trung]
……
* (Tonlé Bassac theo tiếng Khmer). Vì thế nó còn có tên gọi nữa là sông Ba Thắc.(NL)
2. Hoạt động thơ văn
[…Đầu năm 1967 tôi định in tập thơ “Thầm Yêu Trộm Nhớ”, nhưng lần lựa mãi. Tháng tư thì có lệnh gọi nhập ngũ. Vào lính mệt quá nên quên luôn chuyện xuất bản tập thơ. Tám năm cầm súng tôi có viết lai rai cho các tạp chí ở Sàigòn. Sau năm 1975 gia đình đã tự thiêu bản thảo tâp thơ cùng với hơn 200 sách báo của tủ sách gia đình. Khi tôi định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 lo đi cày mờ mắt, đâu có gìờ rảnh mà văn với thơ. Mãi tới năm 1998, tôi mới viết lại và cộng tác với các tạp chí: Khởi Hành, Văn Hóa Việt Nam, Thư Quán Bản Thảo.
Sách thơ được ấn hành:
– Giỡn Bóng Chiêm Bao của Trần Phù Thế, Thư Ấn Quán ấn hành lần đầu, Hoa Kỳ, năm 2003; tái bản lần thứ nhứt năm 2008
– Gọi Khan Giọng Tình của Trần Phù Thế, Thư Ấn Quán ấn hành lần đầu, Hoa Kỳ, năm 2007; tái bản lần thứ nhứt năm 2009.
Anh đã từng phụ trách trang Thơ của Tuần báo TRẺ trên Dallas (Texas, Hoa Kỳ) do Nhật Hoàng chủ biên năm 2008…]
[Trich trả lời phỏng vấn của nhà văn Hai Trầu – Lương Thư Trung]
B. Thơ Nguyên Lạc
— Trước khi giới thiệu vài bài thơ về “Bậu” của tôi, tôi xin có vài hàng về sự quen biết giữa tôi và Trần Phù Thế. Anh Trần Phù Thế chào đời ở làng Hậu Thạnh như đã nói trên, tôi sanh tại làng Đại Ngãi, học cùng trường tiểu học Đại Ngãi, rồi trung học Hoàng Diệu, Sóc Trăng với anh, nhưng sau 3 lớp. Anh nhập ngũ 1967 còn tôi vẫn tiếp tục lên đại học Cần Thơ và mãi đến 1973 mới nhập ngũ, gia nhập Quân Y VNCH, vượt biển đển Bidong, Malaysia 1987 rồi định cư tại Mỹ 1988, trước anh 4 năm.
Đêm nay chợt nhớ con kinh
Hai bờ dừa nước. dòng tình xuôi êm
Hậu Thạnh đồng lúa êm đềm
Anh ra Đại Ngãi tìm em má hồng
Trường xưa. còn nhớ hay không?
Phượng hồng. mắt biếc. tình nồng. duyên quê…
(Ra Đi, Về Tìm – Nguyên Lạc)
Đại Ngãi còn được gọi là Vàm Tấn – Vàm (Danh từ): cửa sông, nơi rạch chảy ra sông hoặc sông con chảy ra sông lớn.
Do cùng sống bên dòng sông Hậu và các kinh rạch nên chữ “Bậu” cũng thấm vào máu tôi, như anh.(Sài Gòn trong tôi/ Nguyên Lạc)
— Mời các bạn đọc vài bài thơ về “Bậu” của Nguyên Lạc:
TỘI GÌ NHỚ THƯƠNG
“Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai
Hỏi ra bậu đã theo trai mất rồi”
Giậm chân tôi réo ông trời
Gây chi bao cảnh sầu đời thế ni
Thuận tay nhổ một cây mì
Gõ vào đầu ba cái… tội gì nhớ thương!
MÔI TÍM MỒNG TƠI
Thò tay ngắt trái mồng tơi
Bậu thoa môi tím nhìn tôi bậu cười
Chuồn chuồn cắn rún tập bơi
Trên bờ dừa nước bậu cười dòn tan
Động con còng gió đỏ càng
Thòi lòi trố mắt bậu càng cười tươi!
*
Đời người như áng mây trôi
Mươi năm tìm lại đâu rồi bậu xa
Bờ kinh dừa nước là đà
Thằng tôi thời cũ tóc giờ điểm sương
Lục bình trôi xuống trôi lên
Bậu trôi mất dấu mình ên tôi ngồi!
.
Nhớ ơi môi tím mồng tơi!
(Nguyên Lạc)
……….
@. Chú thích
a. Còng gió (Ocypode ceratophthalma): Gọi còng gió vì đây là loại còng chạy rất nhanh, tưởng có thể bằng cả tốc độ của gió. Mặc dù có bộ dạng nhỏ thó, nhưng đôi càng của còng gió đực (một lớn, một nhỏ) lại là vũ khí hết sức đáng sợ, càng nó rất khỏe, mép càng sắc như dao, kẹp có thể đứt thịt. Ở quê tôi, Đại Ngãi, Sóc Trăng, Hậu Giang nơi các sông rạch, còng gió lớn cỡ ngón tay màu xanh blue rất đẹp
b. Cá thòi lòi (Periophthalmodon schlosseri), là một loài cá thuộc họ Cá bống trắng (Gobiidae), Cá thòi lòi phổ biến nhất dọc các bãi lầy ở cửa sông, không ngập quá 2 m nước Loài cá này sinh sống trong hang hốc vét ở bãi lầy. Khi thủy triều xuống thì cá chui ra, nhất là những ngày nắng ráo.
Cá có khả năng di chuyển trên mặt bùn khá nhanh, gần như chạy nhảy. Với hệ thống hô hấp bằng phổi cá thòi lòi có thể thở trên cạn. Khi dưới nước thì dùng mang.
THƯƠNG BẬU
Tưởng bậu sâu, thả một câu
Dè đâu bậu cạn! Tiếc câu bậu chề!
Ghét người, tôi lập lời thề!
Nhưng quên tuốt luốt đêm về… bậu ơi!
Tức mình, dậm cẳng kêu trời
Thương chi cho dữ, để rồi… mọc rong!
Bậu ơi! Có biết hay không?
TÌNH QUÊ
1.
Vũng nước trong con cá lòng tong bơi lội
Xa nhau rồi tội lắm bậu ơi!
Chẳng thà không gặp thì thôi
Gặp nhau ruộng vắng trao đời nhớ không?
Nhớ thương từng chổ bậu nằm
Từng lời bậu nói hàm răng bậu cười
Quên tôi bậu đã quên rồi!
Chạy theo phù phiếm bỏ đời tôi đau
2.
Buồn trông con nhện té ao
Con cá vội đớp lòng sao ngậm ngùi
Ngẫm tôi cũng té lâu rồi
Lụy đời vì bậu mắt ngời lá răm
Vẳng khuya cá đớp bóng trăng
Hồn tôi bậu đớp bao lần biết không?
Huơ tay chỉ lạnh chổ nằm
Chiếu chăn xô lệch mất tăm bậu rồi!
Sáng ra bến nước trông vời
Chỉ màu tím biếc bông trôi lục bình
Lòng tôi tím ngắt như bông
Bậu quên tuốt luốt… bậu đành bỏ tôi!
ĐỨNG NGỒI HỎNG YÊN
Bậu về ngắt ngọn mồng tơi
Hái thêm đọt bí ngọt nồi bậu ơi!
Lững lờ con nước cứ trôi
Tại qua mà bậu đứng ngồi hỏng yên
Lục bình hoa tím muộn phiền
Qua sang thăm bậu, nụ duyên bậu cười
Giờ đây bậu trách ông trời
Xe chi lộn mối, qua rồi bậu xa!
Chiều chiều ra đứng hàng ba
Chờ qua không thấy, bậu sa lệ sầu!
Không thương thì có sao đâu?
Mảng sầu qua, bậu ốm o gầy mòn *
…….
* Chim chuyền nhành ớt líu lo
Mảng sầu con bạn ốm o gầy mòn (Ca dao)
Nguyên Lạc
(Bài kế: Chữ Bậu Trong Hò Và Ca Dao…)
…………………..
Ghi chú của Hai Trầu:
[1] Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, nhà xuất bản Rey, Curiol&Cie, Sài gòn, 1895; nhà Văn Hữu, Sài gòn, tái bản năm 1974
[2] Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, nhà xuất bản Khai Trí, Sài gòn, năm 1970, quyển thượng.
[3] Từ Điển Từ Ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Việt Nam, năm 2007
[4] Việt Nam Tân Từ Điển của Thanh Nghị, nhà xuất bản Thời Thế, Sài gòn, năm 1951.
(Sài Gòn trong tôi/ Nguyên Lạc)