Bài thứ 44_Loạt bài Chữ Loang Miền Nhớ.
Cây bút Phan Ni Tấn sinh ngày 6/3/1943 tại Cần Giuộc; tuổi thơ lớn lên ở Ban Mê Thuột. Cha anh là một nhạc công Cổ nhạc gốc Cần Giuộc, Long An; mẹ là người Huế. Anh theo học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, sau đó tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức vào tháng 1/1970 và chính thức phục vụ Quân Lực VNCH vào năm 1971. Sau sự kiện 30/4/1975, anh bị đi cải tạo tại Trại cải huấn Ban Mê Thuột. Vượt biển đến Thái Lan vào cuối tháng 11/ 1979 rồi định cư tại Downsview thuộc Toronto, Ontario, Canada. Cộng tác với nhiều báo chí tại hải ngoại, khi viết bút ký, sử dụng bút danh Nhị Đuông.
Câu chuyện dưới đây do chính anh kể lại.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhạc sĩ – thi sĩ Phan Ni Tấn
“Bà” ở đây là bà Doãn Quốc Sỹ, khuê danh Hồ Thị Thảo, pháp danh Diệu Thảo. Sinh ngày 5/5/1925 tại Hà Nội. Thất lộc ngày 8/9/2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.
… Cuối năm 1978, từ một trại tù cải tạo trên cao nguyên, T (Là Phan Ni Tấn – TAK chú thích) về tới Sài Gòn, sống đúng nghĩa phường trôi sông lạc chợ.
Hằng trưa, T uống nước phông-tên ngoài công viên lấy no và ăn mì quốc doanh vào hằng chiều tối tại nhà một người bạn để cầm cự qua ngày. Ban đêm, anh đi lang thang ngủ bờ ngủ bụi ở bất cứ chỗ nào mà mình cảm thấy an toàn.
Một buổi tối, chị em cô K.O, chủ quán cà-phê Ban Mê tại Thị Nghè có tổ chức một buổi hát chui với một số anh em văn nghệ sĩ quen biết còn sót lại Sài Gòn. Khoảng 9 giờ tối, quán đóng cửa không tiếp khách. Sau lưng cánh cửa khóa, họ bắt đầu hát những bài tình ca đôi lứa, tình ca quê hương và những ca khúc đấu tranh, rồi vừa thưởng thức cà-phê, uống trà nóng vừa tán dóc đủ thứ chuyện trên trời dưới đất từ tiếu lâm đến cả chuyện vượt biển.
Họ nhắc đến nhà văn Mai Thảo, vợ chồng văn thi sĩ Nhã Ca – Trần Dạ Từ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền… Quanh bàn tròn khi ấy, có mặt nhà văn Nguyễn Mộng Giác, đôi nghệ sĩ Lê Uyên Phương, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc nhà xuất bản An Tiêm), nhà biên khảo Lê Huy Oanh, ba họa sĩ kiêm điêu khắc gia Phạm Văn Hạng, Trương Đình Quế, Nghiêu Đề và một số anh chị khác không còn nhớ tên.
Nửa khuya hôm đó tan tuồng, lúc chia tay ra về thì Liên, con của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vui vẻ hỏi T tối nay ngủ đâu, anh cười cười nói có thể ngủ dưới chân cầu Bông như từng ngủ ngồi ở dưới đó và nhiều nơi khác – Ngủ ngồi là ngủ gà ngủ gật, có cái lợi là không bị chìm sâu trong giấc, lỡ có động tĩnh gì cũng dễ bề thoát thân.
Vợ chồng Liên thấy tội nghiệp bèn đưa T về nhà bố mẹ cô, tức ông bà Doãn Quốc Sỹ để ngủ tạm qua đêm. Mẹ của Liên là ái nữ của nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
Lúc đó, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang bị giam ở trại Phan Đăng Lưu. Đã mấy chục năm qua rồi, T vẫn còn nhớ như in đêm anh nằm co trên bộ sofa mầu huyết dụ trong phòng khách của Doãn gia. Trong khoảng không gian mờ tối lúc đó, anh nhận ra bức tranh mộc bản Cây Tổ của họa sĩ Võ Đình khắc tặng nhà văn treo trên bức vách đối diện chỗ anh nằm. Bức tranh khắc cảnh một con trâu bị chém treo ngành cạnh một cây thiêng, bên cạnh đó là một người dàn ông cụt chân chống nạng, mắt long lên một ánh nhìn dữ dội. Họa sĩ Võ Đình mất ngày 31/05/2009 tại Florida, Hoa Kỳ.
Từ ngày du thủ du thực, chưa có đêm nào T được ngủ yên và ngon giấc như đêm ấy dưới mái ấm Doãn gia. Chỉ một đêm thôi và suốt đời anh sẽ chẳng bao giờ còn có thể tìm lại một đêm ấm áp tình người nào khác. Thật ra từ nhiều tháng trước đó, một buổi tối T có ghé qua Doãn gia cùng các em trong gia đình, đàn hát những sáng tác vừa cũ vừa mới của chính anh cho đến khuya mới ra về – Chẳng biết về đâu. Chắc chịu ảnh hưởng từ tiếng tăm và sĩ khí của ông Sỹ nên cả nhà, từ lớn chí bé đều một lòng hào sảng, cương trực và rất có tinh thần văn nghệ.
Buổi sáng thức dậy, T cúi đầu chào bác gái đang cùng Th (Thường gọi là chị Hai) từ trên gác bước xuống. Vẻ mặt tươi tắn và ánh nhìn hiền từ của bác gái, bên cạnh dáng dấp thanh nhã, dịu dàng của Th làm lòng T ánh lên một niềm vui. Đúng lúc đó, cô con út nhỏ xíu trong nhà tự nhiên vụt tới đứng trước mặt anh đưa mắt nhìn một cái rồi lại vụt ra sau bếp, mất dạng. Cái nhìn dò hỏi đầy thơ ngây của cô út H cho đến tận bây giờ, cho T có cảm tưởng nó vẫn không chịu tắt trong anh. Cô út dễ thương này coi bộ đã cùng một chàng trai tuấn tú nào đó ở đâu tuốt bên Hòa Lan nôn nả nắm tay nhau đi trên con đường tươi thắm.
Sau đó, chú em D. Q. Th. hoan hỉ kéo T ra quán cóc ở đầu hẻm Thành Thái đãi một ly cà-phê đen đá ngon hết biết, ngon nhớ đời.
Đã hơn 40 năm ròng rã trôi, lòng T vẫn chật căng một mái ấm của Doãn gia, của bộ sofa mầu huyết dụ, của những ánh nhìn trìu mến, của ly cà-phê đậm đà tình người. Và lâu lắm, hình như từ lúc T chào từ giã Doãn gia ra đi mà suốt đời không có dịp quay lại, anh vẫn âm thầm chịu ơn những tấm lòng nhân ái này. Chịu ơn nhưng không biết làm sao để trả, hôm nay đành kể lại những chi tiết này như một cách để ghi khắc trong lòng hình ảnh về một người đã qua đời, một người phụ nữ Việt Nam đúng nghĩa mẫu mực, đôn hậu, một người mà anh vẫn âm thầm coi bà như là Mẹ của anh.
Ngày bà mất, anh cũng khóc thành tiếng.
PHAN NI TẤN