BÁO LUẬT PHÁP TRONG NƯỚC:TRUNG CỘNG NGỎ Ý MUỐN DÙNG 200 TỈ USD MUA LẠI HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM ( Vĩnh Nam )

Facebooktwittergoogle_plusredditpinterestlinkedinmail

Bài báo dưới đây cho thấy Trung Cộng càng ngày càng đuối lý trong việc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt nam, nên đã “học thuộc bài của Đặng Tiểu Bình không đánh chiến được thì dùng tiền mua để xâm lăng” vì thế: Mới đây, trả lời chuyên mục Quốc phòng của Đài phát thanh tiếng nói Trung Cộng (CNR) ngày 16/3. Thiếu tướng Kim Nhất Nam, một giáo sư chuyên nghiên cứu chiến lược quốc tế của quân đội Trung Cộng đã đưa ra lời kêu gọi nhà nước Trung Cộng dùng tiền để “mua lại” quần đảo Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là Tây Sa) của Việt Nam.
Giải thích về lời kêu gọi này, Thiếu tướng Kim cho rằng việc Hải quân Trung Cộng hiện nay đang nắm giữ hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa về phương diện quân sự và địa lý. Nhưng khó khăn lớn nhất của Trung Cộng chính là việc các tranh cãi về chủ quyền khiến việc nắm giữ quần đảo giàu tài nguyên này trên Biển Đông gặp nhiều trở ngại. Đặc biệt là liên tục vấp phải các ý kiến phản đối từ cộng đồng quốc tế. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Trung Cộng trong việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trên quần đảo rộng lớn này.

Theo đó, Thiếu tướng Kim Nhất Nam đề nghị Quân đội Trung Cộng nên tham vấn cho Chính phủ nước này việc bỏ ra một số tiền lớn, thông qua các khoản viện trợ và tài trợ cho Việt Nam, để đổi lại quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo này trong tương lai. Cũng theo ông Kim, số tiền 200 tỷ USD là hoàn toàn phù hợp đối với tiềm năng kinh tế của Trung Cộng hiện tại cũng như giá trị cốt lõi của quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, Hải quân Trung Cộng cũng sẽ giảm được sự hiện diện lớn trên quần đảo này mà thay vào đó có thể tiến vào các vùng nước xa hơn ở Thái Bình Dương trong vài năm nữa.

Tướng Kim Nhất Nam của Tàu Cộng, Ảnh: Thời báo Hoàn Cầu.

Đây không phải là lần đầu tiên các học giả Trung Cộng đưa ra đề nghị việc Trung Cộng dùng tiền để mua sự im lặng của Việt Nam. Thế nhưng, việc Trung Cộng dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là điều không thể chối cãi.

Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào?

Cái gọi là chủ quyền của Trung Cộng ở Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Cộng gọi là Tây Sa thực chất là những cuộc xâm lăng lãnh thổ bằng vũ lực.

Điều này hoàn toàn không được công nhận và vi phạm nghiêm trọng điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc.

Có thể thấy rằng, Trung Cộng chỉ bắt đầu “nhòm ngó” quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, tổ chức tấn công xâm lược vào những năm 1946, 1956, 1974 và chiếm giữ trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đến ngày nay.

Toàn cảnh cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa. Ảnh: tư liệu (nguồn VNN)

Những luận điệu mà phía Trung Cộng đưa ra đều hoàn toàn phi lý và xuyên tạc.

Luận điệu thứ nhất của Trung Cộng cho rằng: “Trong chiến tranh thế giới thứ 2, phát xít Nhật chiếm đóng quần đảo Tây Sa. Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, theo hàng loạt các văn kiện quốc tế, tháng 11/1946, Chính phủ Trung Cộng cử quan chức cấp cao đi tàu đến Tây Sa tiếp nhận”.

Phân tích điều này sẽ thấy rõ:

Thứ nhất, Phát xít Nhật không xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa mà là từ tay người Pháp đang bảo hộ cho Việt Nam. Trung Cộng không có chủ quyền ở Hoàng Sa nên luận điệu “tiếp quản” là hoàn toàn vô lý.

Thứ 2, tại hội nghị Potsdam ngày 26/7/1945 các nhà lãnh đạo Tam cường khi đó là Hoa Kỳ, Anh, Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đã quyết định chia Đông Dương làm hai khu vực để tiện cho việc giải giới quân đội Nhật Bản đóng tại đây.

Vĩ tuyến thứ 16 được chọn làm ranh giới: việc giải giới ở khu vực Bắc vĩ tuyến ủy thác cho quân đội Trung Hoa (quân Tưởng Giới Thạch) và ở khu vực phía Nam do liên quân Anh – Ấn đảm nhận. Vì quần đảo Hoàng Sa nằm ở giữa hai vĩ tuyến thứ 15 và 17 nên việc giải giới quân đội Nhật trú đóng ở đây thuộc thẩm quyền của quân Tưởng.

Tuyên ngôn Potsdam chỉ cho phép Trung Hoa Dân Quốc giải giới quân đội Nhật Bản ở quần đảo Hoàng Sa, chứ không cho phép Trung Hoa Dân Quốc thu hồi quần đảo này. Theo đó, Trung Hoa Dân Quốc, sau khi giải giáp quân đội Nhật và ổn định tình hình cần phải trao trả Hoàng Sa cho quốc gia có chủ quyền là Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Mở thành phố HCM- người có nhiều công trình nghiên cứu khoa học giai đoạn lịch sử đặc biệt này cho biết: “Vốn đã nhòm ngó Hoàng Sa của Việt Nam từ lâu nên Trung Hoa Dân Quốc sau khi giải giáp quân đội Nhật Bản, họ đã không trao Hoàng Sa cho Việt Nam mà thừa cơ chiếm đoạt. Việc làm đó đã vi phạm Tuyên ngôn Potsdam và luật pháp quốc tế.”

“Việc chiếm đóng và thu hồi hai quần đảo này của Trung Hoa Dân Quốc là bất hợp pháp và vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế vì làm trái với quyết định của Tuyên ngôn Potsdam. Trung Hoa Dân Quốc cần giải giáp quân đội Nhật sau đó trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam mới đúng nội dung của Tuyên ngôn Potsdam.”- TS Phúc khẳng định.

Tất nhiên với Hiệp định Sơ bộ Hồ Chủ tịch ký với Cộng hòa Pháp ngày 6/3/1946, Việt Nam vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.

Với những phản ứng mạnh mẽ của Pháp trước sự chiếm đóng trái phép của quân đội Tưởng Giới Thạch ở Hoàng Sa và sự suy yếu trước các cuộc tấn công như vũ bão của quân đội Mao Trạch Đông ở trong nước, quân Trung Hoa Dân Quốc buộc phải rút khỏi đảo Phú Lâm, kết thúc khoảng thời gian ngắn chiếm đóng trái phép ở quần đảo này. Đến ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ Hoàng Sa.

Tàu chiến của Trung Cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa Việt Nam tháng 1/1974. Ảnh: tư liệu

Luận điệu thứ 2 Trung Cộng đưa ra: “Tháng 1 năm 1974, Trung Cộng đã đánh đuổi quân đội Sài Gòn Việt Nam khi đó đang chiếm đóng một số đảo trong quần đảo Tây Sa”.

Sự thực vấn đề này như thế nào?

Lợi dụng thời khắc lịch sử rối ren của Việt Nam khi quân viễn chinh Pháp buộc phải rút khỏi lãnh thổ của Việt Nam theo Hiệp định Geneve, quân đội Việt Nam Cộng Hòa chưa kịp tiếp quản Hoàng Sa, Trung Cộng đã “lén lút” đưa quân chiếm đóng nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956.

Ngày 21/2/1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm đảo còn lại của quần đảo Hoàng Sa nhưng đã bị lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa phát hiện. 82 binh lính Trung Cộng đóng giả ngư dân cùng với 5 tàu đánh cá vũ trang của Trung Cộng đã bị bắt giữ và áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả lại cho Trung Cộng.

Năm 1970, thời điểm cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam vào giai đoạn cao điểm, Hải quân của quân giải phóng nhân dân Trung Hoa đã tiến hành một số hoạt động ít kín đáo trên nhóm đảo An Vĩnh, bộ phận phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Các cơ sở hạ tầng quân sự đã được xây dựng vào năm 1971. Từ ngày 17 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng mở cuộc tấn công vào lực lượng hải quân của Việt Nam Cộng Hòa với lực lượng hùng hậu: một hạm đội gồm 8 tàu chiến, lục quân và không quân. Dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sĩ đã hy sinh nhưng đến ngày 20 tháng 1 năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã thất thủ, Trung Cộng đã chiếm nốt nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hành động đánh chiếm các đảo, quần đảo ở Biển Đông bằng vũ lực là một sự vi phạm nghiêm trọng Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc. Trong đó nêu rõ: “lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do xử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay xử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay xử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.

Nguyên tắc này được phát triển và cụ thể hóa trong Nghị quyết 2526 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong đó tuyên bố: “Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe dọa hoặc bằng xử dụng vũ lực đều không được thừa nhận là hợp pháp”.

Bà Monique Chemillier Gendreau, Giáo sư Công pháp và Khoa học Chính trị của Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu nhấn mạnh rằng, việc chiếm đóng bằng các cuộc xăm lăng vũ lực là vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, tất cả những hoạt động của Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa không được thừa nhận là hợp pháp.

“Trung Cộng không hề có giấy tờ chứng thực lịch sử với quần đảo Hoàng Sa, chính quyền nước này cũng không có quyền gì mà chỉ chiếm bằng vũ lực. Điều này không thể được xem là một quyền theo luật pháp quốc tế.” – Bà Monique Chemillier Gendreau khẳng định.

Như vậy, đã quá rõ ràng về cái mà Trung Cộng gọi là sự tiếp quản chủ quyền của Trung Cộng ở Tây Sa (tức Hoàng Sa), càng rõ ràng hơn cái mà Trung Cộng nói là đánh đuổi quân đội của VNCH trên quần đảo này vào tháng 1 năm 1974. Đó thực chất chỉ là những hoạt động “trộm cướp” trong những hoàn cảnh đặc thù mà luật pháp quốc tế đã và đang nghiêm cấm những hành vi như vậy.

Luận điệu nữa, Trung Cộng đưa ra những dẫn chứng là lời nói vào năm 1956 của ông Ung Văn Khiêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam DCCH, nội dung công thư 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng tại quần đảo Tây Sa. Trung Cộng cho rằng: “Chính phủ VN hiện nay đã quên ngay những thừa nhận trước kia, vi phạm nghiêm trọng quy định quốc tế và chuẩn tắc trong quan hệ quốc tế là không được phản ngôn”.

Như đã phân tích trong nhiều bài viết trước về vấn đề này, theo Hiệp định Genève năm 1974, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Nam Việt Nam nên chỉ có chính quyền Nam Việt Nam mới được phát biểu về Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi đó không phải là chính chủ về mặt lãnh thổ nên không có quyền, những lời phát biểu hoặc sự thừa nhận của chính phủ Việt Nam DCCH về chủ quyền của Trung Cộng ở Tây Sa đều không mang ý nghĩa pháp lý.

Thêm nữa, người Việt Nam không hề “phản ngôn” mà trái lại, việc thực thi và tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa luôn được các cơ quan đại diện hợp pháp duy trì một cách liên tục, không gián đoạn. Trong đó, có thể kể đến thông cáo ngày 24/5/1956, Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh: “Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa luôn là một phần lãnh thổ thuộc Việt Nam”. Trước đó, trước việc Trung Cộng dùng vũ lực đánh cướp nhóm đảo phía Tây, quan sát viên của Việt Nam DCCH tại Liên hợp quốc khi đó đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp Quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Tóm lại, tất cả những tài liệu mà Trung Cộng đưa ra nhằm chứng minh chủ quyền của Trung Cộng tại quần đảo mà Trung Cộng gọi là Tây Sa (tức Hoàng Sa của VN) đều là ngụy biện và giải thích một cách gượng ép. Người Tàu chỉ thực sự nhòm ngó quần đảo Hoàng Sa của VN từ đầu thế kỷ XX và tổ chức đánh cướp quần đảo này từ người Việt Nam bằng hành động lén lút năm 1956 và tấn công quân sự năm 1974.

Hành động đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực của Trung Cộng không những vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế mà còn là những hành vi trái ngược với vị thế của Trung Cộng trên trường quốc tế.  Nhưng nhà nước Trung Cộng không chịu tỉnh ngộ mà tiếp tục ngang ngược khi cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam cùng với sự hộ tống của đội tàu vũ trang đông đảo.

Nhưng dường như, tiến thêm 1 bước, Trung Cộng đang “giương đông, kích tây” khi hạ đặt giàn khoan trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã cấp tốc tiến hành xây dựng nhưng căn cứ tại bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa – nơi mà Trung Cộng cũng dùng vũ lực để tấn công chiếm đoạt vào ngày 14/3/1988 từ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hòng thâu tóm Trường Sa và Biển Đông.

Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, trong một thế giới văn minh, những hành động trái ngược với pháp lý và đạo lý mà Trung Cộng đã thực hiện trong thời gian qua sẽ không thể có chỗ đứng trong lòng dư luận và cộng đồng quốc tế.

Vĩnh Nam